Skip navigation links

Ba sắc lệnh về bình dân học vụ năm 1945
Send this page to somebodyPrint this pageFeedback

Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp. Thống sứ Bắc Kì từng khẳng định: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”(1). Chính sách thâm độc như vậy đã đem lại hậu quả là hơn 90% đồng bào ta mù chữ dưới thời Pháp thuộc. Nhận thức rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(2), ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương mở một chiến dịch chống nạn mù chữ. Vì thế Người đã ban hành ba sắc lệnh quan trọng về giáo dục, đó là Sắc lệnh 17/SL thành lập nha bình dân học vụ, Sắc lệnh 19/SL quy định mọi làng phải có lớp học bình dân và Sắc lệnh 20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ không mất tiền. Dưới đây là nội dung các sắc lệnh:

 

 Sắc lệnh 17/SL thành lập nha bình dân học vụ.

 

 

 Sắc lệnh 19/SL quy định mọi làng phải có lớp học bình dân.

 

 Sắc lệnh 20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ không mất tiền.

Theo Việt Nam dân quốc công báo, 1945, tr. 7 – 8.

Ba sắc lệnh ra đời đã có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ trực thuộc Bộ Giáo dục với nhiệm vụ phụ trách việc chống nạn mù chữ; Sắc lệnh số 19/SL yêu cầu thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối. Điều này cho thấy Chính phủ đã rất quan tâm và tạo điều kiện học tập cho đội ngũ nông dân, công nhân – vốn là lực lượng nòng cốt trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ với số lượng đông đảo nhưng trình độ còn nhiều hạn chế do chịu hậu quả từ chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Sắc lệnh 19/SL còn quy định hạn trong 6 tháng, làng nào, đô thị nào cũng phải có lớp học ít nhất có 30 người theo học. Việc đưa ra một chỉ tiêu cụ thể như vậy tưởng có phần cứng nhắc nhưng lại thực sự đem lại hiệu quả khi trở thành mục tiêu để từng làng, từng đô thị phải nỗ lực để đạt được. Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bức học chữ quốc ngữ, không mất tiền. Hạn một năm tất cả mọi người dân Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, nếu không sẽ bị phạt tiền. Trong điều kiện nước ta lúc bấy giờ, quả thực không thể không dùng biện pháp “cưỡng bách” bởi vì bên cạnh những người ham học, muốn biết chữ thì cũng còn không ít người trong đó có nhiều người lớn tuổi có tâm lý e ngại, xấu hổ nên không muốn đi học. Có thể nói những chủ trương này táo bạo, quyết liệt nhưng cũng rất đúng đắn và sáng tạo.

Để phong trào có sức lan toả hơn nữa, ngày 4.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống nạn thất học”. Trong bài, Người nêu rõ một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí: “Muốn giữ vững nền độc lập. Muốn làm cho dân mạnh nước giầu. Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Và Người kêu gọi: “Những người đã biết chữ  hãy dạy cho những người chưa biết chữ... Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ nhà bảo, các người giàu có thì mở lớp học ở tư gia dạy cho những người không biết chữ ở hàng xóm láng giềng.”…(3)

Thực hiện Chỉ thị và lời kêu gọi của Chính phủ, ngay từ những ngày đầu trong chiến dịch chống mù chữ, phong trào bình dân học vụ đã thu hút hàng triệu người theo học. Cán bộ kháng chiến phải huy động tìm nguồn ở các thôn xã, làng bản, tập hợp hết mọi người biết chữ dể dạy cho người chưa biết chữ. Phong trào học chữ Quốc ngữ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, chữ được viết khắp nơi ở đình làng, ngõ chợ, bến sông, chữ viết trên vách nhà, công cụ lao động… Trình độ người dạy cao hơn người học không được bao nhiêu nhưng với nhiệt tình cách mạng vừa dạy vừa học, học lớp trên xuống dạy lớp dưới theo tinh thần người biết một chữ dạy người chưa biết chữ. Các đội tuyên truyền vận động có sáng kiến đặt ra những câu hò, vè, văn vần về chữ cái cho người học dễ nhớ như:

                                        O tròn như quả trứng gà

                                        Ô thời đội nón, Ơ thời có râu...

Việc cổ động đôi khi còn phải áp dụng cả những biện pháp nghiêm khắc, đánh vào tâm lý e ngại của người dân như sáng kiến lập “cổng mù”, ai đi chợ mà không đọc được những chữ ghi trên tấm cót đặt bên đường thì phải chui qua “cổng mù” thậm chí không được đi qua cổng vào chợ mà phải lội xuống ruộng mà vào…

Từ đây, phong trào bình dân học vụ đã đem lại những kết quả khả quan. Tổng kết sau một năm thực hiện, chúng ta đã “mở được 75.805 lớp học, có 97.644 người tham gia dạy học và hơn 2,5 triệu học viên đã biết đọc, biết viết.”(4)

Thành quả suốt một năm nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng chế độ mới đã tạo được nền móng vững chắc để nhân dân ta tiếp tục vượt qua khó khăn, chiến đấu và chiến thắng. Trong những thành công bước đầu ấy, chắc chắn không thể không kể đến vai trò của một nền giáo dục khoa học dân chủ và đại chúng mà Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng nên./.

ThS. Nguyễn Hồng Nhung - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

Tài liệu tham khảo 

1. Nguyễn Văn Kiệm, Lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX – 1918, NXB Giáo dục, H., 1979, tr.30
 2. Hồ Chủ tịch bàn về giáo dục, Nxb Giáo dục, H., 1962, tr.192-194.
 3. Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chủ tịch hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống nạn tất học. http://baotanghochiminh.vn/TabId/495/ArticleId/1551/PreTabId/503/Default.aspx.
 4. Lê Mậu Hãn (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, NXB Giáo dục, 2005, tr. 31 – 32.

Created by doanthuha
 


Tin khác:

   Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ(09/09/2011)
   Vài nét về chức năng, quyền hạn của Khâm sứ Trung Kỳ và Thống sứ Bắc Kỳ(05/09/2011)
   Giới thiệu: 3 bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi hai cháu Lê Thị Thanh, Nguyễn Thị Bình và cụ Bộ trưởng Bộ Thương binh Cựu binh(12/07/2011)
Hit Counter

                                 © Trung tâm Tin học - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Liên lạc với Ban Biên tập

                                 Số giấy phép: 64/GP-BC, cấp ngày: 12/02/2007.

                                 Địa chỉ: 12, Đào Tấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: (84-4) 37660370; Fax: (84-4) 37665165
                                 ® Ghi rõ nguồn "archives.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.