Skip navigation links

Tình yêu nước qua những lá đơn tình nguyện đi B
Send this page to somebodyPrint this pageFeedback

Những lá đơn tình nguyện trong mỗi hồ sơ của cán bộ đi B hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về tinh thần tình nguyện, tấm lòng hy sinh vì tổ quốc của thế hệ cán bộ ấy.
       Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc, lớp lớp cha anh không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp hay vùng, miền đã hành quân xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước vì nền độc lập, tự do, thống nhất nước nhà. Đội ngũ cán bộ tình nguyện vào chiến trường miền Nam công tác, chiến đấu cũng là lực lượng quan trọng, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của dân tộc. Những lá đơn tình nguyện trong mỗi hồ sơ của cán bộ đi B hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III giúp cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về tinh thần tình nguyện, tấm lòng hy sinh vì tổ quốc của thế hệ cán bộ ấy.

Hiện nay, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đang bảo quản hơn 55.000 hồ sơ, kỷ vật gốc của cán bộ đi B, trong mỗi hồ sơ đều có những giấy tờ quan trọng của từng cán bộ, như: Chứng minh thư nhân dân, thẻ quân nhân, sơ yếu lý lịch, huân chương, huy chương, những tấm hình của gia đình, người thương, bạn bè,…Và đặc biệt có sự tồn tại thầm lặng trong mỗi hồ sơ là những“Đơn tình nguyện” vào miền Nam công tác, chiến đấu (đi B) của các cán bộ.

Nhân dịp Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2017) và tri ân những cán bộ đã tình nguyện tham gia chiến trường B, nay có người sau cuộc chiến được trở về đoàn tụ bên gia đình, người thân, có người vẫn mang trên mình những vết tích của chiến tranh, nhưng cũng có những người mãi nằm lại chiến trường và có người trở thành những liệt sĩ chưa biết tên,… Xin chia sẻ những cảm nhận của riêng mình khi được đọc những lá đơn của các cán bộ đi B, bởi những lá đơn ấy thực sự đã cho tôi thấy trong đó chứa đựng nhiều ý nghĩa, nhiều vẻ đẹp khác nhau mà tôi muốn được bày tỏ trong bài viết này.

 

Một số đơn tình nguyện của cán bộ đi B

Với những ngôn từ đầy giản dị, mộc mạc và hết sức chân thành được viết trong mỗi lá đơn: “mau chóng”[1], “tự nguyện”[2], “tha thiết”[3], hay “nếu được như nguyện vọng (được vào Nam, được đi B) tôi vô cùng phấn khởi”[4], “nguyện vọng cao nhất”[5], hoặc “một điều vô cùng may mắn cũng là vinh dự đối với tôi là được Ty Giáo dục tuyển chọn vào danh sách các đồng chí cán bộ đi B”[6],… Tự thân những câu, từ ấy đã nói lên tiếng lòng, tâm tư của họ, thể hiện những giá trị về tinh thần, nghĩa cử cao đẹp của những người cán bộ mong muốn được đem trí tuệ, sức lực của mình phục vụ cho đồng bào, cho Tổ quốc.

Bên cạnh đó, trong mỗi lá đơn còn hàm chứa những nhận thức, đánh giá, quan điểm của mỗi cán bộ về cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ cũng như sự tàn khốc, ác liệt của chiến tranh: “đế quốc Mỹ và tay sai ngày càng điên cuồng mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta, tàn sát dã man thường dân, phá hoại các công trình xây dựng của đất nước ta. Tội ác của chúng không sao kể xiết”[7], hay “đế quốc Mỹ cố tình xâm lược nước ta với chính sách Việt Nam hóa nhằm đưa nhân dân trở lại thời kỳ đen tối”[8],…

 

 

 Đơn tình nguyện đi B của cán bộ Trần Xuân Viễn

(Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24774, tờ số 05).

  

Đồng thời, các cán bộ cũng thể hiện rõ những hiểu biết, nhận thức của mình về tình hình thế trận, về những thắng lợi, những nỗ lực, cố gắng trên các mặt trận của phía ta và sự mất mát, hy sinh lớn lao của quân dân hai miền Nam - Bắc trong cuộc trường kỳ “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”: “Trong những ngày đầu xuân năm 1968, ở tiền tuyến lớn miền Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc giải phóng, quân và dân miền Nam đã vùng lên mạnh mẽ, nhất loạt tấn công vào hầu hết các căn cứ của bọn Mỹ và bè lũ Thiệu – Kỳ, đã thu được những thắng lợi to lớn”[9], rồi “Nhân dân ta đã đứng dậy từ ngày đồng khởi, sau nhiều lần đập tan các cuộc hành quân trong các mùa khô, đặc biệt trong kỳ tổng tiến công vừa qua đã đẩy đế quốc Mỹ vào thế bị động hoàn toàn và sắp bước xuống hố suy vong, bọn tay sai thì như ngọn đèn trước gió. Quân dân ta đang bước vào thế tiến công như vũ bão, vùng nông thôn đã rộng lớn chính quyền nhiều nơi về tay nhân dân”[10], “giặc Mỹ ngày nào cũng mang bom đạn giết hại, tàn phá nhà cửa, ruộng vườn của đồng bào ta. Ngày ngày người thân của ta ngã xuống, những cụ già, những bà mẹ, các anh, các chị, các em nhỏ đã ngã xuống”[11],…Những thực tế ấy càng thôi thúc ý chí, tinh thần quyết tâm vào chiến trường miền Nam của các cán bộ. Họ không an phận với công việc, cuộc sống ổn định khi có người  là giáo viên, là nhân viên bưu điện, cán bộ y tế, là công nhân các nhà máy, cán bộ văn hóa…Họ không bàng quan với thời cuộc, luôn quan tâm, tìm hiểu, theo sát mọi diễn biến, tình hình đất nước cũng như thấy rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với vận mệnh của dân tộc: “Lẽ nào tôi lại chịu ngồi im để cho kẻ thù dày xéo lên quê hương mình…tôi thấy tôi cần phải mang hết khả năng trí tuệ của mình để phục vụ Đảng, cương quyết phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc”[12]; Và “Suốt trong 3 năm học trong Trường là 3 năm đất nước ta đang trong khói lửa mà từng giờ, từng phút nhân dân ta đang phải đấu trọi với kẻ thù nguy hiểm nhất, nhân dân sống cuộc sống khổ cực nhất nhưng cũng anh hùng nhất. Trong 3 năm đó, tôi luôn mong ngóng được mau chóng ra trường để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta”[13],...

Trong nội dung từng lá đơn, chúng ta còn thấy rõ vai trò của đường lối, tư tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ kính yêu đã được các cán bộ hiểu một cách sâu sắc,  là nguồn cổ vũ tinh thần, nguồn sức mạnh vô hình, là kim chỉ nam cho mọi quyết định, hành động của các cán bộ: “Là một người thanh niên được sống và làm việc dưới thế hệ Hồ Chí Minh, lại được Đảng giáo dục và xã hội phân công được chiến đấu trên mặt trận văn hóa, giáo dục…. Nay theo tiếng gọi của Đảng, của cách mạng miền Nam… Tự bản thân tôi thấy có đủ điều kiện và tiêu chuẩn lên đường công tác”[14]. Hay những dòng tâm tư của chị Cát Thế Truyền: “Tôi được sinh ra và lớn lên do Đảng dạy dỗ và giáo dục, vì vậy lúc nào tôi cũng luôn suy nghĩ: Mình phải làm gì đây để đền đáp được công ơn của Đảng. Tự hào thay khi tôi trưởng thành, được vinh dự đứng trong hàng ngũ giáo dục, hàng ngũ của những người vun trồng tương lai cho Tổ quốc, được đứng trong nghề “Cao quý nhất của những nghề cao quý, sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo”. Đã từ lâu tôi hằng mơ ước được vào Nam làm công tác giáo dục, tại sao tôi lại hằng mơ ước như vậy? Vì tôi nghĩ rằng: Ngày nay – một thời đại mới hết sức sôi nổi khẩn trương, một thời đại mà hàng vạn thanh niên nam nữ đang nghe theo lời kêu gọi của Đảng, họ không quản khó khăn, gian khổ, gác hết chuyện riêng tư để rầm rập tiến vào miền Nam. Một thời đại vẻ vang như vậy, thanh niên ai mà chẳng sôi bầu nhiệt huyết”[15],…

Có những cán bộ đã cố gắng làm đơn nhiều lần để được cấp trên cho phép đi B, C, như: Chị Nguyễn Thị Huyền Thanh (quê ở tỉnh Nam Hà), anh Lương Quang Phấn (quê ở thôn Cẩm Dư, xã Thanh Lưu, huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam Hà), anh Trịnh Ngọc Sơn, chị Phạm Thị Nhâm (quê ở Yên Đồng, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình),…Nhưng vì lý do độ tuổi chưa đủ, do điều kiện, yêu cầu của cách mạng miền Bắc đang cần họ nên một số lần làm đơn trước đó chưa được duyệt, họ vẫn quyết tâm, tiếp tục làm đơn thiết tha đề nghị được vào miền Nam và họ cho rằng việc được vào trực tiếp chiến trường miền Nam là ước mơ, là hy vọng, là lý tưởng sống của mình, thậm chí nhiều cán bộ còn đưa ra những lý do, tự khẳng định rằng mình đủ tiêu chuẩn để được vào chiến trường B: “Khi học hết cấp II, đã mấy lần tôi làm đơn tình nguyện vào bộ đội, xong không được vì tôi còn nhỏ, chưa đủ tuổi. Thời gian ấy tôi rất buồn vì một số bạn bè cùng học với tôi sau một vài đợt đi khám quân sự họ đều được tuyển vào bộ đội cả…. Từ ngày vào trường đến nay,.. Tôi ngẫm lại tự thấy thẹn với mình, thẹn vì khả năng của mình có mà không làm gì được trước hành động đê hèn của bọn đế quốc Mỹ. Hai năm học trong Trường, tôi được sự bảo vệ của bao chiến sĩ pháo binh cao xạ, hải quân, không quân và bộ đội, nhân dân nói chung trong đất Bắc, bây giờ ra trường tôi tự nghĩ mình phải làm gì cho xứng với công lao đó….. Vậy hôm nay tôi viết đơn này với cả một tấm lòng thành thực, thiết tha và mong muốn nhất của tôi, tức là xin được đi B làm công tác”[16]. Hay “Đã từ lâu tôi hằng mơ ước được vào Nam làm công tác giáo dục...” Và “không còn tiêu chuẩn nào mà tôi chưa đạt nữa cả. Lúc này một niềm tin vô hạn và chắc chắn của tôi là “Nhất định được đi B”, miền tin đó cũng là lý tưởng của tôi…”[17]. Hoặc “Trong hoàn cảnh của cách mạng hiện tại tôi không thể ở bệnh viện của hậu phương mãi được”[18],…

 

  Đơn tình nguyện đi B, C của cán bộ Trần Đình Thiết     

       (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24589, tờ số 15).

Trong hàng nghìn lá đơn được các cán bộ viết ra, còn có cả những lá đơn mang nhiều nét âm hưởng của những tâm hồn trong sáng, mộng mơ của những người còn đang ở độ tuổi mười chín, đôi mươi với tinh thần lạc quan, yêu đời, tuổi trẻ căng tràn sức sống với ước mơ, hoài bão, niểm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến: “Cùng với tiếng hát và bước chân rầm rập trên đường ra tiền tuyến, lòng tôi tha thiết được hòa tâm hồn tươi trẻ của mình vào khúc nhạc khải hoàn ca huy hoàng đó”[19],…

Không chỉ vậy, nội dung của các lá đơn còn cho chúng ta còn thấy bóng dáng của tình yêu đôi lứa trong sáng, tình thương với ông bà, cha mẹ, anh chị em, với con thơ, người vợ tảo tần. Chính những tình yêu ấy, hậu phương vững chắc ấy không những không làm họ nhụt chí, nao lòng mà còn là niềm tin giúp họ có được những hướng giải quyết tốt nhất để khắc phục những khó khăn, vướng mắc về gia đình, đồng thời cũng là nguồn động lực, là sức mạnh thôi thúc, giục giã họ lên đường phục vụ, cống hiến cho Tổ quốc: “Là một nữ thanh niên mới lớn lên tôi cũng không dấu diếm gì các đồng chí, tôi cũng như mọi người, mọi chị em khác, ấp ủ trong lòng một mối tình yêu với một người bạn trai = anh Nguyễn Phát Tường tốt nghiệp cùng khóa bác sĩ y khoa với tôi, sinh hoạt cùng tổ = hiện đã đi công tác B từ tháng 9 năm 1965, đến nay chúng tôi vẫn còn giữ tròn được sự hứa hẹn khi chúng tôi xa nhau (chờ đợi)”[20],… Và “Cả gia đình tôi cũng mong muốn tôi được đi công tác B hoặc C và phấn khởi khi thấy tôi được cấp trên gọi đi trong bất kể thời gian nào”[21]. Hay “Hiện nay tôi đã có anh trai cả trực tiếp đánh Mỹ, nhưng vẫn chưa đủ. Tôi muốn bản thân trực tiếp mới toại nguyện và gia đình cũng như vợ con tôi đã nhất trí”[22],…

Qua mỗi lá đơn còn thấy được chính sự hy sinh, tinh thần anh dũng, kiên cường của các thế hệ cha anh, của các anh hùng trong công cuộc dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, họ đã trở thành tấm gương, điểm tựa cho các tầng lớp thanh niên, cán bộ học tập và tiếp bước, noi theo: “Qua sách vở, báo chí tôi đã đọc biết bao tấm gương về lòng yêu nước, căm thù giặc của các bậc cha ông ta ngày trước (Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi,…) và các gương vì nước, vì nhân dân mà hy sinh dũng cảm như anh Trỗi, anh Bé, anh Xuân, chị Lý,…”[23], cũng như “Gương chiến đấu của Nguyễn Thái Bình, của Lê Mã Lương, của Lê Văn Long và của Lê Thị Hồng Gấm giục giã tôi, thôi thúc tôi, như vẫy gọi tôi lên đường”[24],…

Những lá đơn được viết từ tấm lòng, từ quyết tâm, mong mỏi được tham gia vào chiến trường B của mỗi cán bộ, khác nhau về độ tuổi, về giới tính, về ngành nghề đào tạo, về lĩnh vực công tác hay vùng, miền,…Nhưng cùng có chung lý tưởng, mục đích sống, cùng chung con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, con đường giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với họ, được đứng trong hàng ngũ trực tiếp công tác, chiến đấu tại chiến trường miền Nam với tinh thần “Ra đi quyết giữ lời thề. Chưa hết giặc Mỹ chưa về quê hương”[25] là niềm vinh dự, niềm hạnh phúc vô bờ bến.

Hầu hết các lá đơn được viết chưa đầy 1 trang giấy, nhưng đều thấm đẫm tinh thần vì tổ quốc. Tinh thần và nhiệt huyết trong mỗi lá đơn ấy đã giúp thế hệ trẻ hôm nay hiểu thêm phần nào truyền thống anh hùng, bất khuất, quyết tâm giữ vững nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, xả thân vì đất nước của cha anh ta. Tinh thần ấy, nhiệt huyết ấy đã được hun đúc, lưu truyền qua các thế hệ và trở thành một trong những cẩm nang, hành trang cho các thế hệ thanh niên hiện tại và tương lai gìn giữ và phát huy./.

Đỗ Hương - Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

Chú thích:

[1]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 18257, tờ số 29.

[2]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 18031, tờ số 23.

[3]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 18131, tờ số 34.

[4]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 26972, tờ số 32.

[5]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24591, tờ số 37.

[6]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24625, tờ số 15.

[7]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 887, tờ số 07.

[8]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ số 15342, tờ số 25.

[9]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15518, tờ số 07.

[10]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15139, tờ số 14.

[11]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24315, tờ số 29.

[12]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 27307, tờ số 73.

[13]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15630, tờ số 89, 90.

[14]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15331, tờ số 23.

[15]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 16318, tờ số 10, 11.

[16]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15572, tờ số 50, 51.

[17]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 16318, tờ số 10, 11.

[18]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24500, tờ số 35.

[19]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15955, tờ số 02.

[20]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 14985, tờ số 41.

[21]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24589, tờ số 15.

[22]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 27090, tờ số 19.

[23]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 15572, tờ số 50.

[24]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 24500, tờ số 35.

[25]. Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, hồ sơ 23084, tờ số 18.
Created by Tranngoc
 


Tin khác:

   Sự ủng hộ hòa bình cho Việt Nam tại Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới năm 1949 qua tài liệu lưu trữ(20/07/2017)
   Tấm lòng của Bác Hồ với thương, bệnh binh, liệt sĩ qua tài liệu lưu trữ(19/07/2017)
   Những chính sách nghiêm trị nạn cờ bạc của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa qua tài liệu lưu trữ(19/07/2017)
Hit Counter

                                 © Trung tâm Tin học - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Liên lạc với Ban Biên tập

                                 Số giấy phép: 64/GP-BC, cấp ngày: 12/02/2007.

                                 Địa chỉ: 12, Đào Tấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: (84-4) 37660370; Fax: (84-4) 37665165
                                 ® Ghi rõ nguồn "archives.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.