Skip navigation links

Những Sắc lệnh trở thành Bảo vật quốc gia
Send this page to somebodyPrint this pageFeedback

Giải quyết nạn đói, khắc phục những khó khăn về tài chính trong giai đoạn đầu của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1945-1946 qua những Sắc lệnh đã trở thành Bảo vật quốc gia.

  Trước Cách mạng tháng Tám, nước ta là nước phong kiến nửa thuộc địa, bị vơ vét, bóc lột, nghèo đói, kiệt quệ, đời sống nhân dân cực khổ, tăm tối. Nạn đói hoành hành. Năm 1945, hơn 2 triệu người Việt Nam (chủ yếu là nông dân) chết đói.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, chính quyền còn non trẻ đã phải đương đầu với nhiều thử thách, hiểm họa, ngân khố trống rỗng, giặc đói, giặc dốt giặc ngoại xâm. Trong nước, nhiều thế lực tìm cách phá hoại.

Hội đồng Chính phủ qua nhiều phiên họp, đã xác định rõ: Đẩy lùi nạn đói, cứu dân là việc cấp bách; tìm cách tháo gỡ những khó khăn về tài chính, giải quyết giặc dốt, xóa bỏ nạn mù chữ; từ đó, từng bước ổn định xã hội và nhà nước mới, xây dựng củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp với tình thế, hoàn cảnh của nước ta lúc bấy giờ.

Trong Tập sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa năm 1945-1946 (đã được công nhận là Bảo vật quốc gia), có nhiều Sắc lệnh về vấn đề lương thực, thực phẩm, cứu tế, cứu đói đã được ký, ban hành, thực hiện ngay sau những phiên họp Hội đồng Chính phủ. Cùng lúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Tăng gia sản xuất”, “Sẻ cơm nhường áo”, “Hũ gạo cứu đói”, “Tuần lễ vàng” trong nhân dân. Những biện pháp cấp bách này có tác dụng giải quyết tình thế trước mắt, là những bước cơ bản ban đầu, đồng thời cũng đặt nền móng cho một nền kinh tế tập trung, dân chủ và nhân đạo.

Trong Sắc lệnh số 4-SL ngày 4/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc lập Quỹ Độc lập, khoản thứ nhất định rõ: “Lập tại Hà Nội và các tỉnh trong nước một quỹ thu nhận các món tiền và đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ và ủng hộ nền độc lập của quốc gia. Quỹ này gọi là “Quỹ Độc lập”. Sắc lệnh này cũng chỉ định người đứng đầu chịu trách nhiệm, cách thức triển khai tổ chức quyên góp, quản lý quỹ. Việc lập quỹ mang tên Độc lập đã giải quyết ngay được vấn đề tiền mặt, đặc biệt, việc này khiến Chính phủ gần gũi với nhân dân hơn, kể cả dân nghèo cũng như tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ hoặc tư sản, trí thức thành thị vốn có chút của ăn của để. Ngoài ra, hành động này của Chính quyền mới đã khơi gợi tinh thần đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tôn vinh tinh thần tự do, độc lập dân tộc, kêu gọi tôn vinh ý thức công dân của mỗi cá nhân.

Trong Sắc lệnh số 6-SL ngày 5/9/1945, bên cạnh việc cấm nhân dân không được đăng lính, dẫn đường liên lạc, làm tay sai cho địch, có việc cấm bán thực phẩm cho địch. Điều này có 2 ý nghĩa, một là ngăn chặn mọi sự giao du liên quan tới địch và các thế lực phản động, hai là chủ trương tiết kiệm, tích lũy, giữ lại số lượng lương thực vốn đã quá ít ỏi trong nhân dân, cho nhân dân. Để cụ thể hóa chủ trương này, cũng vào ngày hôm đó, Chính phủ đã tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 7-SL quy định rõ về việc buôn bán, chuyên chở, mua đầu cơ tích trữ thóc gạo trên toàn Bắc bộ. Tương tự như vậy, Sắc lệnh số 50- SL ngày 9/10/1945, đã quy định chi tiết hơn: Nghiêm cấm xuất cảng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm từ ngũ cốc. Đồng thời định rõ: Ai trái với sắc lệnh này sẽ bị phạt theo quân luật và tài sản sẽ bị tịch thu.

Cho tới ngày 12/10/1945, ngân khố Trung ương đã được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau và Chủ tịch Chính phủ Lâm thời ký Sắc lệnh số 51B- SL cho phép ông Giám đốc ngân khố Trung ương được lấy số tiền 1.335.772$34 từ Ngân khố Trung ương giao cho ông Bộ trưởng Bộ Cứu tế để mua gạo.

Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc trước đây đã chỉ ra một trong những tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam là “đầu độc dân ta bằng rượu cồn và thuốc phiện”. Ngày 10/11/1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 57- SL cấm sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ và mua bán rượu ta chế tạo bằng ngũ cốc, đồng thời quy định những biện pháp xử phạt hành vi vi phạm. Việc hạn chế và cấm rượu một mặt giảm được tệ nạn rượu chè bê tha, mặt khác, tiết kiệm nguồn lương thực lúa gạo trong khi dân tình xã hội còn đói khổ.

Ngày 28/11/1945, để hoạt động tiếp tế, cứu tế tổ chức quy củ, chặt chẽ, hiệu quả hơn, Sắc lệnh số 67- SL đã cử ra Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế. Ủy ban này gồm có ông Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế, ông Bộ trưởng Bộ Cứu tế và ông Bộ trưởng Bộ Canh nông. Ủy ban này có toàn quyền hành động để nghiên cứu thi hành những phương pháp cần thiết về tăng gia sản xuất, tiếp tế, cứu tế cho nhân dân trong toàn cõi Việt Nam.

Có thể nói, gạo và tiền - hai thứ quan trọng thiết thân đối với người dân đã trở thành vấn đề nóng của Chính phủ. Nếu trước đây, việc phá kho thóc Nhật tạo ra làn sóng cách mạng dâng cao, thúc đẩy tinh thần tự đứng lên cứu mình, dẫn đến những thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, thì việc gấp rút tiếp tế, cứu tế, cứu đói của Chính phủ Lâm thời, của chính quyền mới đã tạo nên uy tín cho Chính phủ, cho nhà nước, khẳng định Nhà nước dân chủ là nhà nước do dân, cho dân, vì dân. Điều ấy cũng khiến cho sau này trong cuộc Tổng tuyển cử đầu năm 1946, Quốc hội đã công nhận Chính phủ Lâm thời, chính phủ kháng chiến là Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với sự nhất trí cao của đại biểu cử tri trong toàn cõi Việt Nam.

Giải quyết nạn đói và củng cố tài chính là hai nhiệm vụ quan trọng của đời sống nhân dân, cũng là hai việc cơ bản để phát triển nền kinh tế đi lên từ nền nông nghiệp nghèo. Bên cạnh những biện pháp cấp bách mang tính hành chính thể hiện qua hệ thống các Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời lúc bấy giờ, Chính phủ cũng còn nhiều hoạt động khẩn trương, kịp thời, thiết thực và hiệu quả khác.

Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ tóm tắt và giới thiệu một số các quyết sách thể hiện qua các sắc lệnh có trong Tập sắc lệnh năm 1945 đã được công nhận là “Bảo vật quốc gia” ghi dấu về một thời kỳ vinh quang, thời kỳ đầu xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân và nhà nước dân chủ cộng hòa đầy sóng gió. Những sắc lệnh này luôn được giữ gìn trước cả khi được công nhận là Bảo vật quốc gia và sẽ luôn phát huy giá trị lịch sử trường tồn trong thời đại ngày nay và gìn giữ cho các thế hệ mai sau.

Một số Sắc lệnh tiêu biểu:

 

 Sắc lệnh số 4-SL, ngày 4/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc lập Quỹ Độc lập

 

 

 Sắc lệnh số 6-SL ngày 5/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc cấm nhân dân Việt Nam không được đăng lính, bán thực phẩm, dẫn đường, liên lạc, làm tay sai cho quân đội Pháp.

Sắc lệnh số 7- SL ngày 5/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc buôn bán, chuyên chở, mua đầu cơ, tích trữ thóc gạo trong toàn hạt Bắc bộ.

 

 

Sắc lệnh số 50-SL ngày 9/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc nghiêm cấm xuất cảng ra ngoại quốc thóc, gạo, ngô, đỗ hoặc các chế phẩm từ ngũ cốc.

 

 Sắc lệnh 51B-SL ngày 12/10/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc cho phép Giám đốc Ngân khố Trung ương được lấy số tiền 1. 335.772$34 từ Ngân khố Trung ương để mua trữ gạo.

Sắc lệnh số 57- SL ngày 10/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc cấm sản xuất, tàng trữ, tiêu thụ và mua bán rượu ta chế tạo bằng ngũ cốc.

 

Sắc lệnh số 67- SL ngày 28/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc cử Ủy ban tối cao tiếp tế và cứu tế.        

        Nguyễn Thị Ngọc Diệp - Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
Created by Tranngoc
 


Tin khác:

   Công bố tài liệu ảnh về chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru năm 1954(10/10/2017)
   Giới thiệu Nghị định thành lập trường Đại học Sư phạm cao cấp(09/10/2017)
   Cung An Định - Những dấu ấn về kiến trúc và hoài niệm về ông hoàng, bà chúa cuối cùng của triều Nguyễn(22/09/2017)
Hit Counter

                                 © Trung tâm Tin học - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Liên lạc với Ban Biên tập

                                 Số giấy phép: 64/GP-BC, cấp ngày: 12/02/2007.

                                 Địa chỉ: 12, Đào Tấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: (84-4) 37660370; Fax: (84-4) 37665165
                                 ® Ghi rõ nguồn "archives.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.