Skip navigation links

Xứ Bắc kì năm 1907
Send this page to somebodyPrint this pageFeedback

Dưới thời Pháp thuộc nước ta bị chia thành 3 xứ: Bắc Kì, Trung Kì và Nam Kì. Bài viết dưới đây giới thiệu đến bạn đọc về địa chí của xứ Bắc kì năm 1907 trích từ Tổng Niên giám Hành chính, Thương mại và Kĩ nghệ Đông Dương.
         Vị trí và diện tích. Bắc Kì nằm giữa Trung Kì và Trung Hoa, trải dài từ 18o đến 20o vĩ tuyến Bắc và từ 102o đến 10o kinh độ Đông.

 Địa giới. của Bắc Kì được xác định như sau: Phía bắc giáp các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Hoa); phía nam giáp vịnh Bắc Kì (vịnh Bắc Bộ); phía đông giáp Quảng Si, Quảng Đông (Trung Hoa) và biển Đông; phía tây giáp Luang-Prabang (Lào) và Thanh Hoá (Trung Kì).

Địa thế. Bắc Kì được chia làm 2 miền: Miền núi hay còn gọi là Thượng-du và miền đồng bằng gọi là Trung-châu tiếp giáp với biển. Bắc Kì có hệ thống sông ngòi dày đặc. Tầm quan trọng của Bắc Kì chủ yếu đến từ các tuyến đường thương mại lớn hình thành bởi sông Cái hay còn gọi là sông Hồng. Mọi hoạt động xuất nhập khẩu chính của Việt Nam và khu vực biên giới với láng giềng Trung Hoa đều diễn ra thông qua tuyến đường tương đối thuận lợi này.

Nhờ tuyến đường sắt nối liền Vân Nam (Trung Hoa) với biển và qua chính con sông Cái, giao thương quan trọng của khu vực phía Nam Trung Hoa được thực hiện nhờ Pháp.

Châu thổ Bắc Kì được hình thành từ hai châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình. Hai sông này - hoàn toàn tách biệt và nối với nhau bởi hai con sông (sông Đuống và sông Luộc) - chia Châu thổ thành 2 phần gần tương đương cả về diện tích đất đai, số đô thị cũng như hoạt động sản xuất và giao thương. Phần châu thổ giáp biển nhất có địa hình bằng phẳng, trũng và màu mỡ. Hàng năm, ít khi có các trận lũ trên các sông.

Khí hậu. Khí hậu của Bắc Kì nhìn chung ẩm, trong lành tuy nhiên khá nóng vào mùa hè; so với phần lớn các xứ nhiệt đới, Bắc Kì thuận lợi hơn là có một thời kì mát mẻ kéo dài vài tháng. Khí hậu của vùng này có nhiều điểm tương đồng với khí hậu vùng Nice (Pháp) và bờ biển Địa Trung Hải của Tây Ban Nha.

Những đợt mưa lớn thường bắt đầu vào tháng 5, còn các trận lũ thường diễn ra trong tháng 8. Những cơn bão xảy ra thường xuyên. Các trạm khí tượng ở bờ biển Trung Hoa, Philippines và dự báo của hải quân thường cung cấp thông tin về tình hình các cơn bão trước 2 ngày hoặc khi áp kế xuống dưới 750m/m cho thấy sắp có bão.

BẮC KÌ HÀNH CHÍNH

Tổ chức hành chính: Bắc Kì được chia ra thành 23 tỉnh, 3 đạo quan binh và 2 thành phố:

Tỉnh

Bắc Giang

Hưng Hoá

Sơn Tây

Bắc Cạn

Hưng Yên

Sơn La

Bắc Ninh

Kiến An

Thái Bình

Hà Đông

Lạng Sơn

Thái Nguyên

Hải Dương

Nam Định

Tuyên Quang

Hải Ninh

Ninh Bình

Vĩnh Yên

Hà Nam

Phúc Yên

Yên Bái

Hoà Bình

Quảng Yên

 

        Đạo quan binh:

Cao Bằng

Tiểu quân khu Cao Bằng và Bảo Lạc

Hà Giang

Tiểu quân khu Hà Giang và Bắc Quang

Lào Cai

Tiểu quân khu Lào Cai, Bảo Hà và Cốc Lếu

Hai thành phố: Hà Nội và Hải Phòng

Tỉnh. Đứng đầu mỗi tỉnh dân sự là quan cai trị người Pháp nắm quyền kiểm soát chính quyền bản xứ, trực tiếp hơn ở Trung Kì và Camphuchia. Dưới quyền của quan cai trị là những người đại diện - điều hành các trung tâm hoặc đồn hành chính tại một số tỉnh. Các quan Công sứ - Chủ tỉnh đặt dưới quyền của Thống sứ, quyền hạn được quy định bằng sắc lệnh.

Giúp việc cho Thống sứ là một Hội đồng Bảo hộ thành lập theo Sắc lệnh ngày 8/8/1900 và Thống sứ giữ chức Chủ tịch. Các thành viên của Hội đồng này bao gồm: Tướng lĩnh hoặc tư lệnh tối cao quân đội đồn trú Bắc Kì; tư lệnh Hải quân; người đứng đầu các cơ quan hành chính; đại diện của Sở Tư pháp; đại diện của Nha Kiểm tra tài chính; đại diện của các phòng thương mại Hà Nội và Hải Phòng; đại diện phòng Canh nông Bắc Kì và hai kì hào bản xứ.

Hội đồng Bảo hộ Bắc Kì có các quyền hạn giống như Hội đồng Bảo hộ Trung Kì. Ngoài ra, Hội đồng này còn phụ trách hoà giải tranh chấp. Giúp việc cho Hội đồng còn có hai thành viên thuộc lĩnh vực tư pháp do Toàn quyền uỷ quyền hàng năm.

Tổ chức tư pháp. Tính đến năm 1907, ở Hà Nội và Hải Phòng có một số toà án Pháp, một toà đại hình có trụ sở đặt tại Hà Nội. Tại các tỉnh, việc xét xử do các toà án tỉnh thụ lí và giải quyết, hoặc là đối với một số vụ kiện chỉ liên quan đến người bản xứ thì chính quyền An Nam sẽ chịu trách nhiệm nhưng bản án vẫn phải được trình lên toà án Pháp thông qua.

Đạo quan binh. Tổ chức quân sự tại khu vực phía bắc Bắc Kì khá lớn mạnh. Nghị định ngày 6/8/1891 chia Bắc Kì thành 2 phần:

- Vùng châu thổ chia thành các tỉnh và đặt dưới chính quyền dân sự;

- Khu vực miền núi bao quanh châu thổ cho tới tận Trung Hoa được chia thành các đạo quan binh. Các đạo quan binh này lại chia nhỏ thành tiểu quân khu (cercles), các tiểu quân khu lại chia thành các quân khu (secteurs).v.v...

Tổ chức này được hình thành nên vì những lí do sau đây:

1. Khu vực miền núi không thể áp dụng chế độ hành chính như ở vùng châu thổ, vừa bởi đặc điểm địa hình khiến khu vực này khó tiếp cận theo mọi hướng, vừa bởi điều kiện sống của cư dân nơi đây.

2. Dân số định cư ở của khu vực này nằm rải rác, thưa thớt, nguồn thu từ thuế không đủ đáp ứng nhu cầu của một chính quyền tương tự như chính quyền ở vùng châu thổ.

3. Khu vực này chính là lớp phòng thủ tự nhiên về mặt quân sự cho vùng châu thổ trước ngoại bang và điều quan trọng nữa là phải duy trì thường trực ở đây một lực lượng quân sự đủ mạnh để chống lại ngoại xâm và bảo vệ các vùng phụ cận của vùng châu thổ.

Địa giới giữa các khu dân sự và quân sự (đạo quan binh) thay đổi theo hướng có lợi cho phát triển kinh tế của công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp.

Các quyền hạn về hành chính và tư pháp của tư lệnh đạo quan binh được quy định theo Nghị định ngày 15/11/1900 bổ sung bằng Nghị định thứ hai ngày 3/8/1901.

Việc quản lí một trong những đạo quan binh này giao cho một sĩ quan cao cấp, thực thi các quyền hành chính và tư pháp trao cho các Công sứ-Chủ tỉnh trong phạm vi lãnh thổ phụ trách. Về mặt tư pháp, chỉ huy tiểu quân khu đảm nhiệm chức năng, quyền hạn giao cho các Công sứ-Chủ tỉnh của Bắc Kì theo Sắc lệnh ngày 15/9/1886.

NỀN HỌC CHÍNH CỦA BẮC KÌ

Nghị định tháng 4/1904 đã cải tổ nền học chính Bắc Kì dựa trên nền tảng mới. Xuất phát từ yêu cầu của Uỷ ban đặc biệt phụ trách nghiên cứu vấn đề quan trọng này, Toàn quyền đã quyết định phân biệt rõ chương trình giáo dục dành cho thanh niên Pháp sống tại thuộc địa với chương trình dành cho dân An Nam.

Chương trình giáo dục của Pháp chia thành giáo dục tiểu học và giáo dục trung học. Chương trình tiểu học được giảng dạy tại các trường Bảo hộ của Hà Nội và Hải Phòng. Chương trình trung học dạy tại trường Paul Bert, Hà Nội.

Hàng năm, một hội đồng giám khảo cấp bằng tiểu học, bằng sơ đẳng và bằng cao đẳng (có giá trị như các văn bằng của Pháp) thuộc chương trình tiểu học cho những ứng viên có đủ điều kiện về tuổi và kiến thức.

Giáo dục Pháp-Việt được dạy tại các trường thuộc xứ Bảo hộ và trường hàng tỉnh. Nhân sự giảng dạy gồm giáo viên tiểu học người Pháp và người bản xứ. Những người này được đào tạo về phương pháp giảng dạy do Trường Sư phạm Hà Nội tổ chức. Tại Nam Định, Trường Jules Ferry đào tạo các ngành nghề kĩ thuật cho người bản xứ. Tại Hà Nội, hàng năm trường Thông ngôn cung cấp một đội ngũ khá đông thanh niên biết tiếng Pháp. Ở Hà Nội còn có một trường Dạy nghề dưới sự bảo trợ của Phòng Thương mại và một trường Y khoa bản xứ do chính quyền Bảo hộ đài thọ.

Đứng đầu Nha Học chính là một Giám đốc phụ trách việc đưa các chương trình giáo dục của Pháp vào giảng dạy tại thuộc địa.

Giáo sư trường trung học phải có bằng cử nhân. Giáo viên tiểu học phải có các văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của Chính phủ Pháp.

Cuối cùng, Phủ Toàn quyền còn phụ trách duy trì các trường học trong phần lớn các khu của người Hoa thuộc khu vực biên giới. Các trường học này trực thuộc Phủ Phó Toàn quyền và góp phần to lớn vào việc mở rộng ảnh hưởng của nước Pháp.

Một trường chuyên: Trường Pavie xây dựng tại Hà Nội, đào tạo con trai của các quan lại người Hoa có nhu cầu tìm hiểu và học tiếng Pháp.

Giáo dục tư thục rất phát triển. Bên Cơ đốc giáo có một trường dòng lớn tại Hà Nội: Trường Puginier. Ở Hà Nội và Hải Phòng còn có các trường học do các Nữ tu điều hành.

NÔNG NGHIỆP – THƯƠNG MẠI – CÔNG NGHIỆP

Các nông sản chính của Bắc Kì gồm: gạo (hai vụ/năm vào tháng 5 và tháng 11), lụa tơ tằm (ngành kĩ nghệ chính của người bản xứ, mặt hàng xuất khẩu lớn), bông, cây dâu, mía, cà phê, đay, chàm, cây sơn, ngô, tầm ma trắng, cao su, thầu dầu, quế, gừng, đại hoàng, cánh kiến chất lượng cao, v.v...

Vùng đất Bắc Kì cũng là nơi có nhiều cánh rừng che phủ với nhiều loại lâm sản quý như: Gỗ lim, gỗ mun, gỗ trắc, gỗ đàn hương song lại rất khó tiếp cận. Những khu rừng này chỉ được khai thác khi các tuyến đường giao thông được thiết lập.

Khu vực miền núi có khá nhiều mỏ: Vàng, bạc, đồng, chì, thiếc, sắt, antimon.v.v... nhưng trữ lượng lại không lớn.

Khu vực ven biển có vùng mỏ than đá với diện tích đo được gần 1.000 km2. Than đá chủ yếu là loại antraxit, chất lượng tốt. Thời điểm này ở Việt Nam có 3 công trường khai thác than đá tại Hòn Gai, đảo Ké Bào (Vân Đồn, Quảng Ninh) và Nông Sơn cách Đà Nẵng (Trung Kì) 80 km.

Bắc Kì không phải là khu vực chăn nuôi, các bãi chăn thả hầu như không có.

Phòng Canh nông, được tái cơ cấu theo Nghị định ngày 24/2/1900, gồm 10 thành viên người Pháp gồm các nhà trồng trọt, chủ đồn điền và người chăn nuôi Pháp và 2 thành viên người bản xứ do Thống sứ chỉ định. Nhiệm kì của các thành viên này kéo dài 4 năm.

Các phòng Thương mại Hà Nội và Hải Phòng bao gồm 12 công dân Pháp và 2 công dân bản xứ do thành viên thương mại của hai thành phố này bầu với nhiệm kì 4 năm.

Trong 6 tháng đầu năm 1906, tổng kim ngạch nhập khẩu vào Bắc Kì lên tới 101.363.625 phơ răng; kim ngạch xuất khẩu đạt 89.924.184 phơ răng.

Đến năm 1907, ngành công nghiệp của Bắc Kì đã có bước phát triển mạnh mẽ, cụ thể tại Hải Phòng và Hà Nội, nhiều xưởng cơ khí được thành lập. Một số nhà máy rượu lớn bắt đầu mọc lên tại Hà Nội, Hải Dương và Hải Phòng. Các nhà máy bông Nam Định và Hải Phòng, nhà máy Tơ tằm Hà Nội sử dụng một lượng lao động lớn.

Nhà máy Giấy do Hãng M.F.H Schneider thành lập cạnh Hồ Tây, thêm vào đó là Xưởng In lớn đã nuôi sống hàng trăm hộ gia đình. Ngoài ra, còn có các xưởng gạch; nhà máy điện và nhà máy nước đá...

Như vậy, kể từ khi Pháp đặt quyền đô hộ đến năm 1907, ngành thương mại và công nghiệp của Bắc Kì đã, phát triển đạt được những thành tựu đáng kể./.

  Hoàng Hằng - Trung tâm Lưu trữ quốc gia I

----------------------------

Tài liệu tham khảo: S 189 - Tổng Niên giám Hành chính, Thương mại và Kĩ nghệ Đông Dương, tr. 327-332 bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.
Created by Tranngoc
 


Tin khác:

   Những Sắc lệnh trở thành Bảo vật quốc gia(12/10/2017)
   Công bố tài liệu ảnh về chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru năm 1954(10/10/2017)
   Giới thiệu Nghị định thành lập trường Đại học Sư phạm cao cấp(09/10/2017)
Hit Counter

                                 © Trung tâm Tin học - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Liên lạc với Ban Biên tập

                                 Số giấy phép: 64/GP-BC, cấp ngày: 12/02/2007.

                                 Địa chỉ: 12, Đào Tấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: (84-4) 37660370; Fax: (84-4) 37665165
                                 ® Ghi rõ nguồn "archives.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.