Skip navigation links

Hội nghị Paris qua tài liệu lưu trữ
Send this page to somebodyPrint this pageFeedback

Đàm phán Paris là câu chuyện kỳ lạ về cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao khác biệt về văn hóa và truyền thống, giữa một siêu cường mạnh nhất thế giới với một quốc gia phương Đông bé nhỏ.
      Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường miền Nam Việt Nam, để trấn an dư luận trong nước chính quyền L.Johnson quyết định triển khai mặt trận mới trên lĩnh vực ngoại giao, hướng sự quan tâm của dư luận sang một hướng khác. Tháng 1 năm 1967, Tổng thống L.Johnson tuyên bố, Hoa Kỳ “sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào để gặp gỡ miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bàn định hòa bình” (1). Tuy nhiên, phải mất một thời gian khá dài để hai bên có thể ngồi trên bàn đàm phán tại Paris.

Đến cuối tháng 3 năm 1968, khi tình hình chiến sự xấu đi, Tổng thống L.Johnson quyết định đàm phán chính thức với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bất chấp sự phản đối của đồng minh là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Ngay sau đó, những vấn đề như địa điểm diễn ra Hội nghị, thành phần tham gia, thậm chí hình thù của bàn ngồi đàm phán được bàn đến với những tranh luận nảy lửa mới đi đến thống nhất. Ngày 13/5/1968, phiên họp thứ nhất của Hội nghị bàn về vấn đề chiến tranh tại Việt Nam (Hội nghị Paris) diễn ra tại hội trường các Hội nghị quốc tế tại đại lộ Klébe, Paris (Pháp).

   
 

 

  Sơ đồ phòng họp và chỗ ngồi của các phái đoàn tại Hội nghị Paris

Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia II

 
   

Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự phiên họp khai mạc cuộc hội đàm chính thức giữa đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Mỹ trong Hội nghị Paris, ngày 13.5.1968, tại phòng họp Trung tâm các Hội nghị quốc tế (đường Kleber, Paris, Cộng hòa pháp).

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

 

Đoàn đại biểu Chính phủ Mỹ dự phiên họp khai mạc cuộc hội đàm chính thức giữa đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện Chính phủ Mỹ trong Hội nghị Paris ngày 13.5.1968, tại phòng họp Trung tâm các hội nghị quốc tế, đường Kleber, Paris, Cộng hòa Pháp.

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

 

Ngay tại phiên họp đầu tiên, quan điểm của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong đàm phán đã được tuyên bố rõ ràng: Yêu cầu Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh khỏi Việt Nam; ngưng lập tức các cuộc oanh tạc miền Nam và các hành vi quân sự chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một cách vô điều kiện. Đồng thời, lập trường của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng là lập trường xuyên suốt trong giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam, là dựa trên lập trường 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố ngày 8/4/1965) và cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam:

   1. Xác nhận những quyền dân tộc căn bản của nhân dân Việt Nam là hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ theo đúng Hiệp định Geneve năm 1954, chính phủ Mỹ phải rút quân đội, nhân viên quân sự và các loại vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, triệt phá những căn cứ quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam, xóa bỏ liên minh quân sự với miền Nam. Chính phủ Mỹ phải đình chỉ chính sách can thiệp và xâm lược đối với miền Bắc, hoàn toàn chấm dứt mọi hoạt động xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

   2. Trong lúc chờ đợi thực hiện hòa bình thống nhất Việt Nam, trong lúc nước Việt Nam còn tạm thời bị chia cắt làm hai miền thì phải triệt để tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp định Geneve năm 1954 về Việt Nam như: 2 miền đều không có liên minh quân sự với nước ngoài, không có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự của nước ngoài trên đất mình.

   3. Công việc miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết, theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài.

   4. Việc thực hiện hòa bình thống nhất của Việt Nam do nhân dân Việt Nam ở hai miền tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài.     

   Tuy nhiên, phía Hoa Kỳ không đi vào giải quyết các vấn đề giữa 2 bên như đã tuyên bố là trước hết giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ vẫn thể hiện mưu đồ tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Cùng luận điệu, ngày 15/5/1968, phái bộ liên lạc của chính quyền Sài Gòn tại Paris phát đi “tuyên ngôn” với lập trường cơ bản nêu lên tính hợp pháp cái gọi là Việt Nam Cộng hòa – chính thể được thiết lập trên sự phủ nhận và phá hoại Hiệp định Geneve về Việt Nam năm 1954. Nhưng, mục tiêu chính là hướng tới khẳng định trước dư luận vai trò của chính quyền Sài Gòn trong cuộc đàm phán mà họ bị gạt sang một bên.

   Như vậy, ngay từ phiên họp chính thức đầu tiên, chính quyền L.Johnson không đi vào giải quyết các vấn đề cơ bản mà đưa ra những đòi hỏi phi lý nhằm kéo dài cuộc đàm phán, đồng thời tại chiến trường miền Nam Việt Nam, liên quân Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng hòa ra sức thực hiện các cuộc hành quân quét và giữ, nhằm tiêu diệt chủ lực quân giải phóng miền Nam Việt Nam, âm mưu dùng thắng lợi quân sự làm sức ép trong đàm phán ngoại giao.

Cuộc hòa đàm đã diễn ra gay go, phức tạp và trải qua nhiều bước. Ở đó, sự tiến triển của mỗi bước tùy thuộc vào tình hình chính trị của từng bên và cục diện chiến trường tại Việt Nam. Hai bên rồi bốn bên, đàm phán rồi tiến công quân sự, đến cuối tháng 7/1968, trải qua 14 phiên chính thức. Có lúc đàm phán thất bại, nhiều phiên họp diễn ra nhưng không thu được kết quả do các bên đứng trên lập trường của mình.

Ngày 6/11/1968, Richard Milhous Nixon đắc cử Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Cuộc đàm phán được nối lại bằng việc “đăng đàn” tuyên bố “công thức mới” cho cuộc đàm phán và chấp nhận vị thế của phái đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là thành viên của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa buộc phải ngồi vào bàn đàm phán bốn bên về Việt Nam tại Paris.

Ngày 08/10/1972, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Sau 05 ngày thảo luận, bản dự thảo Hiệp định gồm 9 điểm được hình thành và các bên thống nhất lịch trình ký kết hiệp định vào ngày 31/10/1972.     

Nhưng để kéo dài thời gian nhằm thực hiện âm mưu quân sự mới, hi vọng tìm kiếm một chiến thắng có lợi cho mình, tổng thống Nixon đã gửi thông điệp trì hoãn với lí do Nguyễn Văn Thiệu phản đối ký kết. Ngày 18/12/1972, chính quyền Nixon triển khai Chiến dịch Linebacker II, cho máy bay chiến lược B52 ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc ném bom không những không khuất phục được quân dân Việt Nam, mà phía Hoa Kỳ bị thiệt hại nặng nề. Đồng thời hành động này còn gây ra làn sóng phẫn nộ, bất bình trong dư luận thế giới. Tổng thống Nixon phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom quay lại bàn đàm phán và ký kết Hiệp định theo phương án đã ký tắt hồi tháng 10.

Ngày 27/01/1973, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của bốn bên: William P. Rogers - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Nguyễn Duy Trinh - Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nguyễn Thị Bình - Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trần Văn Lắm - Tổng trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa chính thức ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và bốn nghị định thư liên quan.

Hội nghị Paris bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, là một trong những cuộc đàm phán kéo dài nhất thế kỷ XX và trở thành tâm điểm của dư luận thế giới. 4 năm 8 tháng 14 ngày, đàm phán Paris là câu chuyện kỳ lạ về cuộc đối đầu giữa hai nền ngoại giao khác biệt về văn hóa và truyền thống, giữa một siêu cường mạnh nhất thế giới với một quốc gia phương Đông bé nhỏ. Một cuộc đấu trí căng thẳng với những tranh cãi nảy lửa từ các phiên họp công khai đến những cuộc gặp gỡ bí mật. Hội nghị kết thúc bằng một Hiệp định quy định Mỹ đơn phương rút quân ra khỏi cuộc chiến tranh và công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, đã mở ra “cánh cửa” đến hòa bình cho nhân dân Việt Nam.

Mặc dù Hiệp định được ký kết, nhưng Hiệp định Paris đã không được tôn trọng, thực tế khó giữ được hiệp ước ngừng bắn giữa hai bên Bắc Việt Nam và chính quyền Sài Gòn.

Tuy vậy, việc ký kết Hiệp định Paris là sự tháo nút cho cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài nhất trên thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân Việt Nam; là thành quả to lớn của quá trình vừa đánh vừa đàm gay go, phức tạp, căng thẳng, gian khổ trên cả hai lĩnh vực ngoại giao và quân sự mở đường cho thắng lợi lịch sử ngày 30/4/1975.

 

 

 Cuộc họp cuối cùng của Hội nghị Paris về Việt Nam, ngày 27/01/1973

Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia III

 

Đã 45 năm trôi qua, nhưng ý nghĩa và những bài học lịch sử to lớn về đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của dân tộc Việt Nam tại Paris vẫn còn nguyên giá trị, giá trị lịch sử, giá trị nhân văn, trí tuệ và tầm vóc Việt Nam. Nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình, sau gần nửa thế kỷ đã khẳng định: “.. trong đấu tranh luôn luôn giữ vững lập trường, nguyên tắc, trong từng bước đi cụ thể, biết mềm dẻo và linh hoạt – tất cả là nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng: Mỹ phải rút đi hoàn toàn, quân ta vẫn ở tại chỗ, các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được đảm bảo, Việt Nam là của người Việt Nam. Ở đây, cuộc chiến đấu không dùng súng đạn nhưng bằng đấu trí, đấu lý và cả ý chí, cũng vô cùng khó khăn và gian khổ. Các cuộc họp đàm phán bí mật là những trận chiến đấu hết sức quyết liệt. Động lực chính giúp chúng tôi kiên trì đấu tranh và hoạt động tích cực, đó là vì lợi ích tối cao của dân tộc, là niềm tin tuyệt đối vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đối với đàm phán Hiệp định Paris, vấn đề Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam thì Mỹ phải chấm dứt xâm lược là nguyên tắc bất biến. Theo đó, Mỹ phải rút quân ra khỏi Việt Nam không điều kiện, để đảm bảo cho độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (2).

Hay nhà ngoại giao Trịnh Ngọc Thái, thành viên đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, cho biết: “Cuộc đàm phán Paris về Việt Nam đã trở thành trung tâm chú ý của dư luận thế giới vì cuộc đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là tâm điểm của những mâu thuẫn cơ bản của thời đại lúc bấy giờ. Việc ký kết Hiệp định là sự tháo nút cho cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài nhất trên thế giới sau chiến tranh thế giới lần thứ hai...Đàm phán Paris được đánh giá là cuộc đấu trí căng thẳng giữa 2 nền ngoại giao. Đó là nền ngoại giao trên thế mạnh của Mỹ và nền ngoại giao nhân văn của Việt Nam” (3)./.

Trần Minh – Mai Duyên (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Chú thích:

1. Tài liệu của Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Hồ sơ *64, ĐIICH, TTLTII.

2. Trích trong bài phát biểu tại Lễ mít tinh cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, ngày 25 tháng 01 năm 2013, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội) của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN), nguyên trưởng đoàn đàm phán CPCMLTCHNMVN.

3. Lễ mít tinh cấp Nhà nước kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, ngày 25 tháng 01 năm 2013, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội) của ông Trịnh Ngọc Thái.

Tài liệu tham khảo:

1. Sách Hiệp định Paris về Việt Nam qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn, tập 1, 2. Nhà xuất bản chính trị quốc gia, năm 2012.

2. Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

3. Phông phủ thủ tướng, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

4. Phông Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

5. Phông Quốc hội, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

Created by Tranngoc
 


Tin khác:

   Giới thiệu Sách “Hội nghị Pa-ri - Cánh cửa đến hòa bình”(26/01/2018)
   Đảo Phú Quốc năm 1943(25/01/2018)
   Giới thiệu “Bộ sưu tập báo cắt giai đoạn 2000 - 2010”(25/01/2018)
Hit Counter

                                 © Trung tâm Tin học - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Liên lạc với Ban Biên tập

                                 Số giấy phép: 64/GP-BC, cấp ngày: 12/02/2007.

                                 Địa chỉ: 12, Đào Tấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: (84-4) 37660370; Fax: (84-4) 37665165
                                 ® Ghi rõ nguồn "archives.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.