Skip navigation links

Các kho lưu trữ và thư viện trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Send this page to somebodyPrint this pageFeedback

Nghiên cứu trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam nhận thấy từ triều Lý thực tế chưa có cơ quan chuyên trách để bảo tồn, lưu trữ các văn thư, tài liệu, thư tịch nhưng đã manh nha hình thành các nhà kho chuyên dụng chứa các kinh sách.

Mặc dù trong giới khoa học lịch sử Việt Nam đang tồn tại một số giả thiết cho rằng người Việt cổ đã biết đến và sử dụng một thứ văn tự cổ nào đó cách đây khoảng vài ngàn năm, song những giả thiết này cho đến nay vẫn chưa đủ bằng chứng để khẳng định. Một trong những bằng cứ xác thực về một nền văn hiến cổ điển Việt Nam mang tính truyền thống và phổ biến còn tồn tại đến ngày nay có lẽ là những di sản thư tịch chữ Hán và chữ Nôm.

Theo một số nghiên cứu thì chữ Hán đã xuất hiện ở Việt Nam từ đầu thiên niên kỷ trước Công nguyên, bằng chứng là những di vật khảo cổ có khắc kim văn như các đỉnh, thạp đồng, vũ khí... được tìm thấy tại một số nơi ở Việt Nam. Nhưng phải đến đầu Công nguyên, thông qua con đường cai trị và đồng hoá của phong kiến phương Bắc, chữ Hán mới được truyền bá rộng rãi vào Việt Nam qua các quan cai trị của nhà Hán như Thái thú Tích Quang, Nhâm Diên và đặc biệt là Sĩ Nhiếp, người sau này được người Việt tôn xưng là “Nam giao học tổ”. Từ đó chữ Hán dần trở thành công cụ giao tiếp hàng ngày và được sử dụng rộng rãi trong việc học hành, viết lách, thi cử và trong các văn bản chính thức của nhà nước Việt Nam.

Tuy nhiên, những tư liệu chữ Hán từ đó tiếp đến nhiều thế kỷ sau đều không còn lưu giữ được mà chỉ được ghi chép lại trong các sử sách sau này mà thôi. Hiện nay, văn bản chữ Hán cổ nhất hiện còn lưu giữ được ở Việt Nam là tấm bia đá khắc bài văn bia Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn được tìm thấy tại Đông Sơn - Thanh Hoá do Nguyên Nhân Khí người Hà Nam soạn có niên đại Đại Nghiệp 14 (618) thời nhà Tuỳ (1). Tiếp đến là chiếc chuông đồng được phát hiện ở xã Thanh Mai - Thanh Oai - Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) có niên đại Trinh Nguyên 14 (698) thời nhà Đường (2). Những di vật này là minh chứng cho nền văn hoá Bắc thuộc ở Việt Nam những năm đầu Công nguyên.

Sau khi giành được độc lập tự chủ, nền văn hoá Hán vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng và chữ Hán vẫn là thứ văn tự chính thức trong suốt thời kỳ phong kiến dài hơn một nghìn năm của Việt Nam, từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và chấm dứt khoảng đầu thế kỷ XX khi mà chữ quốc ngữ đã chính thức được thay thế. Với một thời kỳ tồn tại dài hàng nghìn năm, chữ Hán, và sau này có thêm chữ Nôm (bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ X), đương nhiên đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với nền chính trị và văn hoá xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong văn hiến thư tịch cổ. Một khối lượng khổng lồ các tài liệu, văn bản, sách vở bằng chữ Hán Nôm đã được sáng tác, biên soạn, ghi chép trong suốt hàng nghìn năm đó. Tuy nhiên, số lượng còn lưu truyền và bảo tồn được đến ngày nay có lẽ chỉ chiếm một phần rất nhỏ mà thôi. Trong thực tế hiện nay, những văn thư, tài liệu, thư tịch Hán Nôm còn lưu giữ được sớm nhất là vào thời Lê sơ (1428-1527),  sách vở, thư tịch của các triều đại trước đó hầu như chỉ còn được ghi chép lại trong các sách sử sau này. Vậy phải chăng các triều đại phong kiến Việt Nam đã không quan tâm đến công tác lưu giữ, bảo tồn các di sản Hán Nôm đó? Và phải chăng trong suốt một nghìn năm phong kiến tự chủ, các nhà nước phong kiến Việt Nam chưa từng có một cơ quan chuyên trách về công tác văn thư lưu trữ?

Nghiên cứu trong suốt chiều dài lịch sử phong kiến Việt Nam nhận thấy từ triều Lý thực tế chưa có cơ quan chuyên trách để bảo tồn, lưu trữ các văn thư, tài liệu, thư tịch nhưng đã manh nha hình thành các nhà kho chuyên dụng chứa các kinh sách. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Thuận Thiên năm thứ 12 (1021) đời vua Lý Thái Tổ làm nhà Bát giác chứa sách kinh. Hai năm sau, năm Thuận Thiên 14 (1023) mùa thu tháng 9 xuống chiếu chép kinh Tam Tạng để ở kho Đại Hưng. Năm Thông Thuỵ thứ 3 (1036) đời vua Lý Thái Tông xuống chiếu chép kinh Đại tạng cất ở kho Trùng Hưng(3). Triều Lý là triều đại rất coi trọng Phật giáo, việc ghi chép, lưu trữ các sách kinh rất được triều đình quan tâm, vì vậy việc xây dựng các nhà kho chứa sách kinh có thể coi là những cơ sở đầu tiên hình thành nên công tác lưu trữ của thời kỳ phong kiến tự chủ ở Việt Nam.

Đến thời Trần, sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép: năm Hưng Long thứ 3 (1295) đời vua Trần Anh Tông, mùa xuân tháng 2, sứ nhà Nguyên là Tiêu Thái Đăng sang, vua sai Nội viên ngoại lang Trần Khắc Dụng, Phạm Thảo cùng đi theo, nhận được bộ kinh Đại tạng đem về để ở phủ Thiên Trưòng và in bản phó để lưu hành. Ngoài kho kinh Phật ở Thiên Trường (Nam Định) thời Trần còn có một thư viện lớn gọi là điện Bảo Hoà hay cung Bảo Hoà trên núi Lạn Kha tức núi Phật Tích ở Tiên Sơn, Bắc Ninh. Mùa đông năm Xương Phù thứ 7 (1383) vua Trần Phế Đế sau khi đi đánh Chiêm Thành dẫn quân về đã đến đây truyền các quan biên soạn bộ sách Bảo Hoà dư bút gồm 8 quyển và sai Đào Sư Tích đề tựa ở đầu sách để dạy bảo quan gia(4). Như vậy là thời Trần đã xuất hiện các kho lưu trữ và thư viện sách. Đặc biệt thời kỳ này các kho lưu trữ và thư viện kiêm nhiệm cả việc biên soạn, in ấn sách vở.

Triều Lê, một trong những triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, đã có những chế định luật pháp khá chặt chẽ đối với công tác công văn giấy tờ. Quốc triều hình luật, bộ luật sớm nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam hiện còn lưu giữ được đến ngày nay, trong 722 điều thì có đến mấy chục điều nói về công tác này như các quy định về cách thức soạn thảo công văn giấy tờ, quy định về việc dùng ấn dấu, công tác bảo mật công văn giấy tờ, việc ban hành và tiếp nhận văn bản... Sách Thiên Nam dư hạ tập, bộ sách mang tính chất hội yếu, ghi chép các điển chương chế độ thời kỳ đầu của nhà Lê được biên soạn dưới thời vua Lê Thánh Tông cũng có những quy định rất rõ ràng về các việc như cấm đệ trình văn bản trái lệ, cấm tâu trình vượt cấp, quy định về việc chuyển phát công văn... Tuy đây mới chỉ là những định chế luật pháp còn  khá đơn giản đối với công tác văn thư lưu trữ, nhưng đã bước đầu đánh dấu sự hình thành những nghiệp vụ chuyên môn của công tác này dưới thời phong kiến. Theo sử sách ghi chép lại,  triều Lê còn có thư viện Bồng Lai là một thư viện rất lớn chứa rất nhiều sách vở quý. Triều Tây Sơn cũng có thư viện Sùng Chính được thành lập năm Quang Trung 4 (1791) tại Thanh Chương, Nghệ An do La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng cũng là một thư viện lớn vừa để chứa sách vừa là nơi dịch chú các sách kinh điển chữ Hán(4).

Triều Nguyễn, triều đại cuối cùng của phong kiến Việt Nam, thời kỳ này công tác văn thư lưu trữ đã có bước phát triển vượt bậc, hoạt động khá rõ nét và hiệu quả. Vua Gia Long vị vua đầu tiên của triều Nguyễn ngay từ năm Gia Long 1 (1802) đã cho đặt Thị thư viện, Thị hàn viện và Nội hàn viện để chuyên chăm lo các việc công văn giấy tờ. Trong bộ Hoàng Việt luật lệ, hay còn gọi là bộ luật Gia Long được ban hành năm Gia Long 12 (1813) tại quyển 5 phần Lại luật chức chế cũng có những chế định khá rõ đối với những sai phạm trong công tác văn thư như: chuyển giao văn thư chậm trễ, xét duyệt văn bản không đúng cách, tự ý thêm bớt sửa chữa văn bản, quên đóng ấn tín, sử dụng ấn tín không đúng lệ... Đến đời Minh Mệnh, việc quản lý công văn giấy tờ càng được quan tâm hơn nữa và đi vào nề nếp. Sách Đại Nam thực lục chính biên chép về vua Minh Mệnh như sau: “Vua sáng suốt cẩn thận về chính thể. Những chương sớ trong ngoài tâu lên nhất nhất xem qua, dụ tận mặt cho các nha nghĩ chỉ phê phát, việc quan trọng thì phần nhiều vua tự nghĩ soạn, hoặc thảo ra, hoặc châu phê. Có bản phê bắt đầu từ đấy” (5). Ngay năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), nhà vua đã cho đổi Thị thư viện thành Văn thư phòng và lấy các viện Thị hàn, Nội hàn lệ thuộc vào đó. Năm Minh Mệnh 10 (1829) lại đổi Văn thư phòng làm Nội các để có nơi chuyên trách và kiểm soát việc chương sớ tấu trình. Dụ ngày 13 tháng giêng năm Minh Mệnh 11 (1830) viết: “Nay đã cải định Văn thư phòng làm Nội các để cố vấn. Truyền từ nay về sau, nếu Nội các nghĩ chỉ có chỗ không hợp, chuẩn cho đường quan 6 bộ nêu ra đàn hặc. Còn 6 bộ nghĩ chỉ, nghị tấu có chỗ nào không hợp cũng chuẩn cho Nội các nêu ra đàn hặc tâu lên chờ Trẫm định đoạt”(6). Như vậy Nội các triều Nguyễn giữ vai trò văn phòng giúp việc của nhà vua kiêm nhiệm vụ văn thư lưu trữ, chuyên trách kiểm duyệt các bản tấu trước khi trình lên nhà vua duyệt lãm. Ngoài ra cũng năm đó đặt 4 Tào lệ thuộc vào Nội các là Thượng bảo, Ký chú, Đồ thư và Biểu bạ để chuyên coi giữ các loại ấn triện, bản thảo, bản phó các dụ, chỉ, chiếu, sắc; ghi chép và lưu giữ các ngự chế thi văn của nhà vua và các bản có bút tích vua phê. Vì vậy, toàn bộ khối Châu bản là những tài liệu văn thư lưu trữ quan trọng của triều đình nhà Nguyễn đã được lưu giữ ở đây cho đến năm 1945. Ngoài thư viện của Nội các, vua Minh Mệnh còn cho thành lập một số thư viện khác như Tàng thư lâu được xây dựng năm Minh Mệnh 6 (1825) trên một hòn đảo nằm giữa hồ Học Hải trong kinh thành Huế để tàng trữ các sách vở của Hoàng triều. Toàn bộ khối Địa bạ quý hiếm đã được cất giữ ở đây cho đến cuối triều Nguyễn. Ngoài Tàng thư lâu, còn có Thư viện Tụ khuê là một thư viện lớn chứa rất nhiều sách quý. Đến các đời vua tiếp theo sau Gia Long và Minh Mệnh cũng tiếp tục thành lập các thư viện để lưu trữ sách vở và các văn thư tài liệu khác như: Thư viện Quốc sử quán được thành lập năm Thiệu Trị 1 (1841), Tân thư viện thành lập dưới triều vua Duy Tân (1907-1916), Thư viện Cổ học thành lập năm 1922 dưới triều vua Khải Định... Có lẽ triều Nguyễn nhờ có một hệ thống cơ quan quản lý văn thư lưu trữ có tính chuyên trách như vậy nên từ đó về sau khá nhiều sách vở, thư tịch, tài liệu quý giá đã được lưu giữ cho đời sau.

Hiện nay, một khối lượng không nhỏ các tài liệu Hán Nôm quý giá đã được chuyển về lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội như các khối Châu bản triều Nguyễn, Địa bạ triều Nguyễn và rất nhiều sách, tư liệu quý khác hiện đang được lưu trữ tại các thư viện lớn ở Hà Nội như: Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia, Thư viện Viện Sử học, Thư viện Viện Thông tin khoa học xã hội... Các tài liệu, thư tịch này có thể coi là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá cho nhiều ngành khoa học và là bộ phận không thể thiếu trong kho tàng di sản Hán Nôm của dân tộc.

Nguyễn Thu Hoài

        Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1) Tấm bia này hiện đặt tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội.

(2) Chiếc chuông này hiện được lưu giữ tại Sở Văn hoá thông tin Hà Tây.

(3) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, 2, bản dịch, NXB Khoa học xã hôi, Hà Nội 1993; (tập 1 trang 246, 247, 258; tập 2 trang 73, 170).

(4) Dẫn theo Trần Nghĩa, François Gros, Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1993.

(5)Đại Nam thực lục chính biên, tập 2, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội 2004, trang 39.

(6) Châu bản triều Nguyễn, quyển 40, văn bản số 53, tờ số 83 (Minh Mệnh 11)

Đoàn Thu Hà
 


Tin khác:

    Lưu trữ Hà Tĩnh: Vấn đề cần quan tâm(05/08/2008)
   Một số vấn đề về lập hồ sơ trong công tác văn thư hiện nay(11/06/2008)
   Một vài ý kiến về việc thu thập tài liệu lưu trữ quý hiếm(04/06/2008)

                                 © Trung tâm Tin học - Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Liên lạc với ban biên tập

                                 Số giấy phép: 64/GP-BC, cấp ngày: 12/02/2007. Trưởng ban biên tập: TS. Vũ Thị Minh Hương

                                 Địa chỉ: 12, Đào Tấn, Ba Đình, Hà Nội; Điện thoại: (84-4) 37660370; Fax: (84-4) 37665165
                                 ® Ghi rõ nguồn "archives.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ website này.