|
MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN TRONG CHỈ ĐẠO, HƯỚNG DẪN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC VĂN THƯ Ở ĐỊA PHƯƠNG
ThS. Lă Thị Hồng Pḥng Nghiệp vụ địa phương
Những năm gần đây, cùng với việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước và cải cách nền hành chính, Nhà nước ta đă ban hành được nhiều văn bản liên quan đến công tác văn thư, tạo hành lang pháp lư, nâng cao nhận thức, làm cơ sở quan trọng để công tác văn thư có những bước tiến bộ đáng kể. Qua thực tiễn trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ công tác văn thư ở địa phương, chúng tôi thấy cho đến nay vấn đề này đă đạt được những kết quả chính sau đây: 1. Về nhận thức, công tác văn thư được các cấp lănh đạo quan tâm hơn nên trong tổ chức, chỉ đạo đă tăng cường thực hiện một số biện pháp như: a. Việc mở lớp bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ về những nội dung của công tác văn thư được tổ chức thường xuyên hơn. b. Cơ sở vật chất được tăng cường đầu tư, đặc biệt các phương tiện ghi tin, truyền tin, nhân bản ở bộ phận văn thư (máy tính, máy fax, máy photocopy, điện thoại…) được trang bị khá đầy đủ. c. Văn bản hướng dẫn về các nội dung công tác văn thư được ban hành nhiều hơn, quy định cụ thể hơn như soạn thảo, ban hành văn bản; tiếp nhận, đăng kư, chuyển giao, xử lư văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ… d. Việc kiểm tra, hướng dẫn, tổng kết được tăng cường hơn ở tất cả các cấp, các ngành địa phương. 2. Những kết quả cụ thể: a. Chất lượng văn bản ban hành được nâng lên rơ rệt. Số lượng văn bản ban hành không đúng thẩm quyền, sai thể thức, chậm tiến độ giảm đi đáng kể. b. Quản lư văn bản đi, văn bản đến, quản lư con dấu ở phần lớn các cơ quan đă đi vào nề nếp. Đặc biệt ở những cơ quan đă có ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lư văn bản đi - đến th́ việc đăng kư, quản lư cũng như tra t́m văn bản rất thuận lợi. c. Giải quyết văn bản và lập hồ sơ hiện hành đă được chú ư hơn, nhất là hồ sơ, tài liệu của khối chuyên viên Văn pḥng UBND cấp tỉnh. d. Nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ đă có nhiều tiến bộ đáng kể. Hàng năm, hầu hết khối Văn pḥng UBND cấp tỉnh đă thu được tài liệu vào lưu trữ cơ quan. Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và cải cách nền hành chính, công tác văn thư ở các địa phương c̣n nhiều bất cập. Điều đó thể hiện ở những vấn đề chính sau đây: 1. Soạn thảo và ban hành văn bản Mặc dù đă có Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004, song việc phân biệt giữa văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản cá biệt ở nhiều nơi vẫn c̣n rất lúng túng. Từ đó dẫn đến việc thực hiện quy tŕnh xây dựng, thủ tục ban hành, cách ghi kư hiệu, ghi thẩm quyền ban hành và thẩm quyền đề kư các loại văn bản này chưa được thống nhất. Thẩm quyền ban hành văn bản giữa UBND và Chủ tịch UBND vẫn c̣n lẫn lộn là t́nh trạng khá phổ biến, dẫn đến việc ghi kư hiệu văn bản c̣n nhiều sai sót như năm ban hành, chữ viết tắt cơ quan ban hành. Về thể thức và kỹ thuật tŕnh bày văn bản: mặc dù đă có Thông tư 55, nhưng trong thực tế việc thực hiện theo văn bản này ở nhiều nơi c̣n chưa đầy đủ. Việc hiểu chưa đúng, chưa hết tinh thần của Thông tư 55 c̣n biểu hiện tập trung ở các yếu tố cấu thành thể thức văn bản như: cơ quan ban hành (cụ thể ở đây thường là cách ghi tên cơ quan cấp trên trực tiếp), kư hiệu, địa danh, thẩm quyền ban hành, thẩm quyền đề kư. Ngoài ra trong kỹ thuật tŕnh bày văn bản, phổ biến ở nhiều nơi c̣n chưa khắc phục được thói quen cũ về sử dụng cỡ chữ, kiểu chữ, các dấu gạch chân, gạch nối, dấu chấm, dấu phẩy… 2. Quản lư văn bản Việc quản lư văn bản đi, văn bản đến đă được quy định tại Công văn số 425/VTLTNN-NVTW của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước ngày 18/7/2005. Đây là cơ sở để khắc phục dần t́nh trạng chưa thống nhất trong vấn đề này ở các địa phương. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện đầy đủ theo các yêu cầu của văn bản này là cả một quá tŕnh đối với các cơ quan ở cấp tỉnh, huyện và đặc biệt là cấp xă. Những tồn tại trong vấn đề quản lư văn bản đi, văn bản đến c̣n phải kể đến là: mẫu sổ sách đăng kư c̣n chưa thống nhất; việc thực hiện quy tŕnh đăng kư, chuyển giao, kư nhận và theo dơi giải quyết văn bản đến c̣n chưa đầy đủ; hệ thống sổ sách c̣n lộn xộn. Riêng việc đăng kư, quản lư văn bản đi, văn bản đến bằng máy tính và mạng nội bộ, ngoài các tồn tại nêu trên c̣n những bất cập như: sự không thống nhất của các thông tin đầu ra; việc chuyển giao, quản lư và sử dụng bản gốc, bản chính trở nên tùy tiện… Đặc biệt, đối với vấn đề quản lư bản gốc, bản chính văn bản đi, văn bản đến ở các cơ quan địa phương những năm gần đây đang có xu hướng phổ biến như sau: - Đối với văn bản đến: lưu toàn bộ tại văn thư (theo số đăng kư đến hoặc theo cơ quan gửi, theo tên loại văn bản), chỉ chuyển giao bản sao cho những bộ phận liên quan. - Đối với văn bản đi: lưu toàn bộ hồ sơ tŕnh kư tại văn thư (lưu theo tên loại văn bản, theo thứ tự đăng kư trong sổ) Lư do của cách quản lư như trên được giải thích như sau: trước hết nhằm quản lư được bản gốc, bản chính văn bản (v́ nếu giao cho chuyên viên th́ dễ thất lạc, rất khó khăn khi cần sử dụng); đối với văn bản đi th́ hồ sơ tŕnh kư được coi là hồ sơ việc. Với quan niệm và cách quản lư như trên đă dẫn đến thực tế là: các bản gốc, bản chính đều được lưu theo trật tự của sổ đăng kư văn bản đến và sổ đăng kư văn bản đi, c̣n ở các chuyên viên trong quá tŕnh quản lư, theo dơi, giải quyết công việc lại chỉ có bản sao. Các hồ sơ tŕnh kư của văn bản đi thực chất chỉ là hồ sơ soạn thảo văn bản đó thôi, hoàn toàn không phải hồ sơ về các việc, các vấn đề mà nếu phải nhiều lần ban hành văn bản (hồ sơ thanh tra, hồ sơ quản lư xây dựng công tŕnh, hồ sơ giải quyết khiếu nại tố cáo…) th́ hồ sơ đă bị xé lẻ. V́ vậy khi cần nghiên cứu một vụ việc, một vấn đề th́ không có hồ sơ, mà phải nhớ, phải t́m theo sổ đăng kư của từng văn bản. Hơn nữa, khi đến hạn nộp lưu vào lưu trữ, các tập lưu đó không thể đáp ứng yêu cầu nghiên cứu theo vấn đề, bắt buộc phải dỡ bỏ các tập lưu trên để phân loại, xác định giá trị, lập hồ sơ theo vấn đề. Như vậy, cách quản lư trên gây tốn kém, mất thời gian, không quản lư được hồ sơ theo vấn đề, không có sự kế thừa từ văn thư vào lưu trữ. Một tồn tại nữa trong vấn đề quản lư văn bản đi là: ở nhiều cơ quan địa phương đến nay vẫn c̣n lưu văn bản đi không đóng dấu. Lư do được trả lời là để khi cần có thể chụp ra để đóng dấu tiếp và phát hành bản chính. Vậy khi chuyển giao các tập lưu văn bản không đóng dấu vào lưu trữ th́ giá trị của tập lưu đến đâu? Khi cơ quan đổi tên, đổi dấu th́ giải quyết thế nào? Việc quản lư văn bản phát hành như vậy có chặt chẽ không? Vấn đề này tồn tại không phổ biến, nhưng đến nay vẫn c̣n được phát hiện trong quá tŕnh kiểm tra thực tế ở các cơ quan địa phương. 3. Quản lư con dấu Trong vấn đề quản lư con dấu ở các cơ quan địa phương, đặc biệt ở cấp xă, đang diễn ra t́nh trạng là: con dấu của các tổ chức, đoàn thể mà có chung trụ sở, chung văn thư c̣n chưa được quản lư tập trung tại trụ sở, tại văn thư cơ quan. Ví dụ ở cấp xă có các tổ chức, đoàn thể chỉ do một người phụ trách nên dẫn đến việc người đó tự quản lư con dấu, tự soạn thảo văn bản, sau đó tự kư và đóng dấu. Đây là vấn đề cần được quy định bằng văn bản để việc quản lư và sử dụng con dấu được chặt chẽ và thống nhất. 4. Lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ Đây là vấn đề c̣n rất nan giải ở địa phương. Trong các báo cáo công tác định kỳ cũng như thực tế kiểm tra tại các cơ quan, một số cơ quan đă lập được danh mục hồ sơ và tổ chức hướng dẫn và thực hiện việc lập hồ sơ hiện hành, song trên thực tế việc này mới chỉ là thử nghiệm và chưa trở thành nề nếp. Những danh mục hồ sơ đă ban hành (mới chỉ ở một số cơ quan Văn pḥng UBND tỉnh) c̣n những tồn tại chủ yếu như: chưa bao quát được hết các nhóm hồ sơ cần lập, chưa xác định được thời hạn bảo quản của hồ sơ. Trong thực tế ở những cơ quan đă ban hành danh mục hồ sơ, việc lập hồ sơ cũng thường phải do cán bộ lưu trữ xuống tận bàn làm việc của chuyên viên để giúp trực tiếp, nếu để tự chuyên viên th́ rất khó thực hiện. C̣n ở những cơ quan chưa ban hành được danh mục hồ sơ, việc lập hồ sơ cũng chỉ là tương đối ở những bộ phận chuyên viên có ư thức, hoặc với những công việc mà không lập hồ sơ không giải quyết được công việc như kế toán, thanh tra, cán bộ… Hiện nay có nhiều cơ quan coi việc lưu hồ sơ tŕnh kư là đă lập hồ sơ và quản lư được hồ sơ. Song đây chính lại là gánh nặng để lại cho lưu trữ phải xử lư sau này như đă phân tích ở trên. T́nh trạng chung hiện nay ở các cơ quan địa phương vẫn là chưa lập được hồ sơ theo yêu cầu, tức là chưa xây dựng được danh mục hồ sơ và lập hồ sơ theo danh mục. Quan niệm chung vẫn cho rằng việc xây dựng danh mục hồ sơ là việc làm không tưởng, v́ không thể h́nh dung trước được những hồ sơ ǵ sẽ được lập trong năm. Chúng tôi cho rằng đây tất nhiên là việc khó, khi chưa biết cách làm, khi chưa quen, nhưng không phải không thể làm được. Việc lập hồ sơ công việc cũng như bất cứ việc nào khác, trước khi làm đều phải có kế hoạch. Danh mục hồ sơ chính là bản kế hoạch lập hồ sơ trong năm. Trong quá tŕnh thực hiện kế hoạch đó, tất nhiên phải có điều chỉnh vói thực tế, để cuối cùng mới có mục lục hồ sơ nộp lưu. Vấn đề quan trọng là cần phải có cán bộ văn thư hoặc lưu trữ cơ quan nắm được vấn đề, có kỹ năng trong việc xây dựng danh mục hồ sơ, sau đó c̣n phải biết tổ chức thực hiện việc lập hồ sơ theo danh mục. Việc lập danh mục hồ sơ đă được hướng dẫn có hai phương pháp: từ trên xuống (pḥng hành chính hoặc văn thư- lưu trữ lập danh mục hồ sơ chung cho toàn cơ quan); hoặc từ dưới lên (từng đơn vị lập danh mục hồ sơ của đơn vị ḿnh, sau đó pḥng hành chính tập hợp lại thành danh mục hồ sơ chung cho toàn cơ quan). Vậy nên chăng việc lập hồ sơ theo danh mục cũng cần hướng dẫn thực hiện theo hai cách tương tự. Từ trước đến nay chúng ta mới chỉ hướng dẫn theo một hướng là các chuyên viên phải lập hồ sơ công việc. Nhưng trên thực tế trong mấy chục năm qua, vấn đề này vẫn chưa giải quyết được, mà thực tế hiện nay ở các cơ quan địa phương đang đi theo xu hướng quản lư tất cả văn bản đến và hồ sơ tŕnh kư tại văn thư. Nếu như trên cơ sở danh mục hồ sơ, văn thư cơ quan đưa luôn các văn bản đến và hồ sơ tŕnh kư vào từng hồ sơ theo danh mục th́ việc lập hồ sơ, quản lư hồ sơ theo công việc mới thật sự đúng nghĩa. Như vậy, việc tra t́m, sử dụng văn bản, hồ sơ và chuyển giao hồ sơ vào lưu trữ mới được thuận lợi, đáp ứng được các yêu cầu của hiện tại cũng như trong tương lai. Vấn đề quan trọng nhất trong xây dựng danh mục hồ sơ và tổ chức lập hồ sơ theo danh mục chính là chức danh có khả năng làm được việc đó. Để có được chức danh như vậy, cần giải quyết những vấn đề trước đó như đào tạo kỹ năng, phân công chức danh cụ thể nào phải thực hiện việc này, quy tŕnh thực hiện, chế độ kiểm tra, khen thưởng, xử phạt… Nhiệm vụ quản lư, tổ chức lập hồ sơ hiện hành cần phải được xác định là giao cho chức danh cụ thể nào ở mỗi cơ quan. Vấn đề này hiện nay đang c̣n rất lúng túng. Có ư kiến cho rằng đây là nhiệm vụ của văn thư cơ quan. Ư kiến khác cho rằng đây là nhiệm vụ của Chánh Văn pḥng hoặc Trưởng pḥng Hành chính. Lại có kinh nghiệm cho rằng lưu trữ cơ quan làm được là tốt nhất… Nhưng xem ra trong các chức danh trên, chức danh nào cũng đều bận rộn vào những việc chính khác, mà việc xây dựng danh mục hồ sơ và lập hồ sơ theo danh mục cuối cùng vẫn không có ai quan tâm, v́ không phải là việc chính của ai cả. Đây là vấn đề cần phải được làm rơ và cần phải được tích cực chỉ đạo để tổ chức thực hiện th́ mới dần giải quyết được vấn đề không lập hồ sơ hiện hành như hiện nay. Cũng do t́nh trạng không có danh mục hồ sơ và không lập hồ sơ theo danh mục nên vấn đề nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan cũng c̣n rất lộn xộn. Ở những cơ quan địa phương như Văn pḥng UBND tỉnh và các cơ quan có lưu trữ chuyên trách, công tác nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ đang dần trở thành nề nếp. Tuy nhiên việc nộp lưu cũng rất khác nhau: các tập lưu ở văn thư (kể cả tập lưu văn bản đến và tập lưu hồ sơ tŕnh kư như đă nói ở trên) được nộp lưu sớm hơn quy định (thường 6 tháng, có khi 3 tháng đă nộp lưu trữ); trong khi các hồ sơ, tài liệu ở chuyên viên thường sau vài ba năm mới nộp theo đợt. Tuy nhiên ở những cơ quan không có lưu trữ chuyên trách th́ thường khoảng 10- 20 năm cán bộ văn thư kiêm lưu trữ mới thu tài liệu một lần để thuê chỉnh lư. Tài liệu ở những cơ quan này thường lộn xộn, chưa được lập hồ sơ. T́nh trạng này khá phổ biến ở hầu hết các cơ quan cấp sở, huyện. Trên đây là những tồn tại chính trong công tác văn thư ở các cơ quan địa phương. Những tồn tại trên xuất phát từ những lư do chính sau đây: 1. Công tác văn thư trong suốt thời gian dài không do một cơ quan chủ quản nào có chức năng quản lư nhà nước để hướng dẫn, chỉ đạo một cách tập trung thống nhất. Chính v́ vậy mà về mặt lư luận cũng như các văn bản pháp lư cho đến nay c̣n nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu xây dựng một cách hoàn chỉnh. Cụ thể là chưa nghiên cứu xây dựng được mô h́nh chuẩn về các quy tŕnh nghiệp vụ trong công tác văn thư, đặc biệt trong việc quản lư văn bản, quản lư xử lư công việc và tổ chức lập hồ sơ hiện hành. Những văn bản quy định đă được ban hành mới chỉ là bước đầu ở một số vấn đề, song c̣n chưa đầy đủ, đặc biệt vấn đề quản lư hồ sơ trong môi trường điện tử và sự chuyển giao, kết nối quản lư hồ sơ từ văn thư vào lưu trữ theo ṿng đời của hồ sơ, tài liệu. Chương tŕnh công nghệ thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu quản lư hồ sơ, quản lư và điều hành công việc trên cơ sở hồ sơ. Đó là những vấn đề mà cả về mặt lư luận cũng như cơ sở pháp lư cần phải được nghiên cứu hoàn thiện để làm căn cứ cho việc tổ chức thực hiện đầy đủ các quy tŕnh của công tác văn thư. 2. Chưa chuẩn hóa đội ngũ cán bộ chuyên môn làm hành chính liên quan đến những nội dung công tác văn thư, đặc biệt là chức danh văn thư có kỹ năng xây dựng danh mục hồ sơ, hướng dẫn lập hồ sơ và quản lư hồ sơ theo danh mục. Tuy nhiên kỹ năng này được giảng dạy tại các cơ sở đào tạo đại học và trung học của chúng ta c̣n quá sơ sài, ít được thực hành và quan sát trong thực tế. Các sách tham khảo, các bài viết trên tạp chí cũng rất ít đề cập tới vấn đề này. Trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cũng chưa có được các biện pháp tích cực để đội ngũ cán bộ chuyên môn ở các cơ quan có khả năng thực hiện được việc xây dựng danh mục hồ sơ và lập hồ sơ theo danh mục. Chưa xây dựng được điển h́nh trong thực tế về lĩnh vực này để các cơ quan, các sinh viên có thể tham khảo, học tập và nhân rộng. 3. Chính sách chế độ đăi ngộ đối với cán bộ làm văn thư c̣n chưa thỏa đáng. Bên cạnh công tác lưu trữ đă có các chức danh với ngạch bậc ổn định, th́ công tác văn thư ở một số địa phương c̣n gặp khó khăn khi xếp lương cho những cán bộ làm văn thư trực tiếp. Quyết định số 650-TCCP/VC ngày 20/8/1993 của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) quy định các ngạch chuyên viên văn thư, cán sự văn thư, được hiểu ở một số nơi là chỉ áp dụng cho các đơn vị hay bộ phận quản lư, không áp dụng cho những người làm văn thư trực tiếp. Chính v́ vậy, trên thực tế tại một số cơ quan địa phương, dù cán bộ có bằng đại học, mà trực tiếp làm văn thư vẫn được xếp vào ngạch nhân viên văn thư. Do đó, đối với những cán bộ làm văn thư trực tiếp cần điều chỉnh và xếp vào các chức danh phù hợp với yêu cầu và tŕnh độ như nhân viên văn thư, cán sự văn thư, chuyên viên văn thư, chuyên viên chính văn thư, chuyên viên cao cấp văn thư (tương đương với các chức danh lưu trữ ở các đơn vị sự nghiệp như lưu trữ viên trung cấp, lưu trữ viên, lưu trữ viên chính,…), c̣n nhân viên văn thư với tŕnh độ sơ cấp chỉ là chức danh thừa hành, giúp việc cho các chức danh chính ở trên mà thôi. Với chức danh và mức lương của nhân viên văn thư th́ không thể thực hiện được tất cả các việc ở bộ phận văn thư, đặc biệt trong xu hướng tin học hóa văn pḥng và để đáp ứng các yêu cầu về quản lư hồ sơ, tài liệu như hiện nay. Nếu như không sắp xếp được các chức danh văn thư có tŕnh độ phù hợp th́ công tác công văn giấy tờ trong cơ quan không thể đáp ứng được với yêu cầu ngày càng cao của công cuộc cải cách hành chính trong các cơ quan nhà nước. Một vấn đề nữa là đối với những cán bộ văn thư kiêm lưu trữ: trách nhiệm cao, nội dung công việc nhiều, song chế độ phụ cấp lại chỉ được hưởng theo chức danh lưu trữ (nếu được thực hiện). Cần có mô h́nh riêng cho chức danh văn thư kiêm lưu trữ ở những cơ quan nhỏ không cần có chức danh riêng. Các chế độ phụ cấp đối với cán bộ văn thư làm trực tiếp chưa được áp dụng, trong khi đó các cán bộ lưu trữ đă được hưởng một số chế độ nhất định. Điều này là hoàn toàn bất hợp lư. Cán bộ văn thư cũng cần có các chế độ phụ cấp như trách nhiệm trong giờ, ngoài giờ, mức độ căng thẳng theo yêu cầu công việc độc hại trong môi trường làm việc với máy tính… 4. Sự quan tâm đến công tác văn thư, đến cán bộ làm văn thư trực tiếp ở nhiều nơi, nhiều lúc c̣n chưa được đầy đủ. Công tác văn thư, cán bộ làm công tác văn thư c̣n chưa được coi là lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ cần được đào tạo, mà chỉ là những người phục vụ, thừa hành. Chính v́ vậy mà t́nh trạng bố trí cán bộ văn thư không có chuyên môn, hoặc có chuyên môn nhưng không được phát huy c̣n khá phổ biến. Từ đó dẫn đến nhiều nội dung của công tác văn thư không có người tham mưu, quản lư, chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, thống nhất theo các quy định của Nhà nước. Những nguyên nhân kể trên của các tồn tại trong công tác văn thư hiện nay cần có những biện pháp khắc phục để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và cải cách nền hành chính. Những biện pháp chủ yếu cần tập trung vào những nội dung chính sau đây: 1. Nghiên cứu cơ sở lư luận và thực tiễn về những nội dung của công tác văn thư như: hệ thống thuật ngữ, các mô h́nh quản lư, quy tŕnh thực hiện, biểu mẫu thống nhất… liên quan đến soạn thảo, ban hành văn bản; quản lư, giải quyết văn bản; lập hồ sơ, quản lư và nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ. 2. Tŕnh các cấp có thẩm quyền ban hành hệ thống văn bản làm hành lang pháp lư cho việc thực hiện các nội dung công tác văn thư. Cần có kế hoạch xây dựng Luật Văn thư, hoặc kết hợp với xây dựng Luật Lưu trữ để có thể ban hành Luật Quản lư hồ sơ và Lưu trữ. 3. Đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cán bộ văn thư từ đại học, cao đẳng, trung học, nghề cho phù hợp với tŕnh độ và yêu cầu ở từng bậc học. 4. Phối hợp với các ngành liên quan để ban hành các quy định về chế độ phụ cấp cho cán bộ văn thư. 5. Tăng cường các biện pháp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, tổng kết, khen thưởng và xử phạt đối với các hoạt động liên quan đến công tác văn thư. |