| Loại văn bản | : Nghị định | ||
| Ngày ban hành | : 27/12/2005 | ||
| Nội dung: | |||
|
NGHỊ ĐỊNH Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ______ CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002; Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, NGHỊ ĐỊNH : Chương I Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 về một số quy định chung trong việc soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, về quyền hạn, trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan có liên quan trong việc lập dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là chương trình xây dựng luật, pháp lệnh) trình ủy ban Thường vụ Quốc hội; lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ; trình tự, thủ tục soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội; trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Điều 2. Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật Dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi chung là dự án, dự thảo) quy định tại Nghị định này là dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội do Chính phủ trình; dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; dự thảo văn bản quy phạm pháp luật liên tịch mà Bộ, cơ quan ngang Bộ là một bên ký ban hành hoặc dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội. Điều 3. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương 1. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương theo quy định tại Nghị định này phải có đầy đủ các yếu tố sau đây: a) Do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo hình thức quy định tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; b) Được ban hành theo thủ tục, trình tự quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; c) Có chứa quy tắc xử sự chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi đối tượng hoặc một nhóm đối tượng và có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương (quy phạm pháp luật); d) Được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật. 2. Các văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành, nhưng không có đầy đủ các yếu tố của văn bản quy phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này, như: nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và nghị quyết về điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; nghị quyết của Chính phủ về chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định; nghị quyết về điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ; nghị định của Chính phủ phê chuẩn đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); nghị quyết của Quốc hội về miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê duyệt kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và các chức vụ khác; quyết định phê duyệt đề án khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính của cơ quan, đơn vị; quyết định về thành lập cơ quan, đơn vị; quyết định giao chỉ tiêu kinh tế - xã hội cho cơ quan, đơn vị; quyết định thành lập các Ban Chỉ đạo, Hội đồng, ủy ban lâm thời để thực hiện nhiệm vụ trong một thời gian xác định; lệnh công bố luật, pháp lệnh của Chủ tịch nước; quyết định phê duyệt điều lệ của hội, tổ chức phi Chính phủ; quyết định lên lương, khen thưởng, kỷ luật, điều động công tác; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, cho từ chức, tạm đình chỉ công tác cán bộ, công chức; quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên ủy ban nhân dân cấp tỉnh; quyết định xử lý vi phạm hành chính; văn bản quy phạm nội bộ của cơ quan, đơn vị; văn bản cá biệt để phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt; văn bản cá biệt có tính chất chỉ đạo, điều hành hành chính hoặc để hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và các văn bản cá biệt khác để giải quyết vụ việc cụ thể đối với đối tượng cụ thể thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này. 3. Văn bản có chứa quy phạm pháp luật theo quy định tại điểm c nhưng không có đủ các yếu tố được quy định tại các điểm a, b, d khoản 1 Điều này như công văn, thông báo, điện báo, hướng dẫn và các giấy tờ hành chính khác thì phải bị đình chỉ thi hành và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. Điều 4. Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 1. Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cùng cấp về cùng một vấn đề phải phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước có chức năng quản lý chuyên ngành về vấn đề đó. 2. Văn bản quy phạm pháp luật không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật phải được kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, huỷ bỏ, sửa đổi theo quy định của pháp luật. Điều 5. Số và ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật 1. Văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành phải được đánh số thứ tự theo năm ban hành và có ký hiệu riêng cho từng loại văn bản. 2. Việc đánh số thứ tự phải bắt đầu từ số 01 theo từng loại văn bản của năm ban hành loại văn bản đó. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch được đánh số thứ tự theo số văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan chủ trì soạn thảo. 3. Ký hiệu văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch được quy định như sau: số thứ tự của văn bản/năm ban hành (ghi đầy đủ số của năm)/tên viết tắt của văn bản - tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản - cơ quan liên tịch ban hành văn bản. 4. Tên viết tắt của văn bản quy phạm pháp luật và tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật được quy định như sau: a) Về tên viết tắt của văn bản quy phạm pháp luật: - Nghị quyết viết tắt là NQ; - Nghị định viết tắt là NĐ; - Quyết định viết tắt là QĐ; - Chỉ thị viết tắt là CT; - Thông tư viết tắt là TT; - Nghị quyết liên tịch viết tắt là NQLT; - Thông tư liên tịch viết tắt là TTLT. b) Về tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật: - Chính phủ viết tắt là CP; - Thủ tướng Chính phủ viết tắt là TTg; - Đối với tên của Bộ, cơ quan ngang Bộ thì viết tắt bằng chữ in hoa chữ cái đầu tiên của từng chữ trong tên các Bộ, cơ quan ngang Bộ; đối với tên các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên từ ''và'' thì không viết tắt liên từ đó; - Đối với tên của các cơ quan liên tịch thì viết tắt bằng chữ in hoa tên của cơ quan chủ trì soạn thảo; tên viết tắt bằng chữ in hoa tên của từng cơ quan tham gia ban hành văn bản liên tịch theo thứ tự chữ cái tiếng Việt. Điều 6. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật 1. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước được thực hiện theo quy định tại các khoản 1 và 2 Điều 75 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết thì ngay tại điều, khoản đó phải xác định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và thời hạn ban hành văn bản quy định chi tiết. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết phải tương ứng với thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết. Trong trường hợp vì lý do khách quan mà văn bản quy định chi tiết chưa được ban hành thì trong thời hạn 90 (chín mươi) ngày, kể từ ngày văn bản được quy định chi tiết có hiệu lực, văn bản quy định chi tiết phải được ban hành. Quy định này chỉ áp dụng đối với văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết trong trường hợp này được xác định theo quy định tại các điểm a, đ, e khoản 2 Điều này. 2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; văn bản quy phạm pháp luật liên tịch mà Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ là một bên ký ban hành phải quy định thời điểm có hiệu lực tại văn bản đó. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật này được thực hiện theo nguyên tắc sau: a) Thời điểm có hiệu lực của văn bản phải sau 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày đăng Công báo, trừ trường hợp văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc được ban hành để giải quyết những vấn đề đột xuất thì thời điểm có hiệu lực của văn bản có thể quy định sau khi ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó; đ) Đối với các quy định trong văn bản quy định chi tiết thi hành có lợi cho đối tượng áp dụng thì thời điểm áp dụng các quy định đó được tính từ thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết và phải được quy định cụ thể trong văn bản quy định chi tiết; e) Đối với các quy định trong văn bản quy định chi tiết thi hành về nghĩa vụ hoặc chế tài gây bất lợi cho đối tượng áp dụng thì thời điểm có hiệu lực được tính từ thời điểm có hiệu lực của văn bản quy định chi tiết. a) Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước, nhưng không quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc để giải quyết những vấn đề đột xuất thì thời điểm có hiệu lực không được sớm hơn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó; b) Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc để giải quyết những vấn đề đột xuất thì thời điểm có hiệu lực có thể xác định kể từ ngày ký ban hành và phải được quy định cụ thể trong văn bản đó. Điều 7. Thẩm quyền ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1. Thủ tướng Chính phủ ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội để hướng dẫn thi hành những vấn đề mà pháp luật có quy định việc tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước và văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Thủ tướng. Trong trường hợp vắng mặt hoặc căn cứ vào các lĩnh vực được phân công cho Phó Thủ tướng, Thủ tướng có thể ủy quyền cho Phó Thủ tướng ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. 2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là một bên ban hành. Trong trường hợp vắng mặt, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có thể ủy quyền cho cấp phó ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. Điều 8. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật 1. Việc đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện như sau: a) Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành phải được Văn phòng Chính phủ đăng Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước; b) Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành được quy định tại điểm a khoản này phải được gửi đến Văn phòng Chính phủ trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành để đăng Công báo; Văn bản đăng Công báo có giá trị như bản gốc. c) Trình tự, thủ tục đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng theo quy định của Chính phủ về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt 2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch nếu không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản được ban hành để quy định các biện pháp thi hành trong trường hợp khẩn cấp hoặc để giải quyết những vấn đề đột xuất, văn bản quy định hiệu lực trở về trước hoặc văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Nghị định này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm thời hạn đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật, thời hạn gửi văn bản quy phạm pháp luật để đăng Công báo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều này, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 9. Đính chính văn bản quy phạm pháp luật 1. Văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành, đăng Công báo, nếu phát hiện có sai sót thì phải được đính chính: a) Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bản thì người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền của người đứng đầu cơ quan đó ký văn bản đính chính. Trong trường hợp sai sót thuộc trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ ký văn bản đính chính; b) Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan Công báo thì văn bản đính chính do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ký văn bản đính chính. 2. Việc đính chính văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành hoặc được đăng Công báo phải dựa trên cơ sở đối chiếu với văn bản gốc và không làm thay đổi nội dung của quy định trong văn bản gốc. Chỉ đính chính đối với lỗi chính tả hoặc sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật. Việc đính chính không áp dụng đối với những sai sót về căn cứ ban hành, thẩm quyền, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có những sai sót về thẩm quyền, nội dung thì văn bản quy phạm pháp luật đó sẽ bị đình chỉ thi hành và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. 3. Văn bản đính chính phải được đăng Công báo. Điều 10. Gửi văn bản quy phạm pháp luật Trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày ký ban hành, văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ (kể cả văn bản liên tịch) phải được gửi đến các cơ quan có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy định tại các Điều 81 và Điều 84 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các Điều 82, 82a và Điều 83 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Điều 11. Đưa tin văn bản quy phạm pháp luật 2. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương phải được đăng trên Trang tin điện tử (Website) của Chính phủ, trừ các văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước. 3. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương phải được gửi đến Văn phòng Chính phủ trong thời hạn 02 (hai) ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành để đăng trên Trang tin điện tử của Chính phủ. Trong thời hạn là 02 (hai) ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm đăng văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương trên Trang tin điện tử của Chính phủ. Văn phòng Chính phủ quy định cụ thể việc tổ chức, quản lý, sử dụng và lưu trữ văn bản quy phạm pháp luật trên Trang tin điện tử của Chính phủ. Điều 12. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài 1. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, công bố, đăng Công báo có thể được dịch ra tiếng nước ngoài. 2. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài phải bảo đảm đúng nội dung của văn bản; từ ngữ trong bản dịch phải chính xác. 3. Bản dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng nước ngoài theo quy định tại Nghị định này chỉ có giá trị tham khảo. 4. Thông tấn xã Việt Điều 13. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số 1. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, công bố hoặc đăng Công báo có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số. 2. Việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số phải bảo đảm đúng nội dung của văn bản; từ ngữ trong bản dịch phải chính xác. 3. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào thực tiễn điều hành, quản lý nhà nước ở địa phương quyết định việc dịch và tổ chức việc dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số. Điều 14. Tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước Việc soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, gửi và ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước phải tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước. Điều 15. Rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật 1. Văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành phải được thường xuyên rà soát, hệ thống hoá. 2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành có liên quan đến chức năng quản lý ngành, lĩnh vực của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý ngành, lĩnh vực. 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm: a) Ba năm một lần, tổ chức hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý để lập danh mục các văn bản còn hiệu lực, hết hiệu lực thi hành, bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc thay thế bởi văn bản khác; danh mục văn bản ban hành còn hiệu lực, nhưng trong đó có những quy định cần được sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ, huỷ bỏ; gửi đăng Công báo danh mục các văn bản còn hiệu lực thi hành, danh mục văn bản hết hiệu lực thi hành, bị bãi bỏ, huỷ bỏ hoặc thay thế bởi văn bản khác thuộc ngành, lĩnh vực mình quản lý; b) Kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, huỷ bỏ văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện trái pháp luật, không phù hợp với tình hình thực tiễn. Chương II LẬP DỰ KIẾN VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH, CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NGHỊ QUYẾT, NGHỊ ĐỊNH Điều 16. Đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là luật, pháp lệnh) và chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ 1. Căn cứ vào Điều 22 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Điều 59 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu quản lý của ngành, lĩnh vực do mình phụ trách, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ. Tổ chức pháp chế Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ lập dự kiến xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định để trình Chính phủ. 4. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải được gửi đến Bộ Tài chính để thẩm định về nguồn tài chính dự kiến, gửi đến Bộ Nội vụ để thẩm định về nguồn nhân lực dự kiến (nếu có) nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ phải kèm theo văn bản của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ đánh giá về nguồn tài chính, nguồn nhân lực dự kiến nhằm bảo đảm thi hành luật, pháp lệnh sau khi được ban hành. 5. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm trước. Đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo nhiệm kỳ của Quốc hội được gửi đến Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ chậm nhất là ngày 01 tháng 7 của năm kết thúc nhiệm kỳ của Quốc hội khoá trước. 6. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn gửi đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh quy định tại khoản 5 Điều này, Bộ Tư pháp phải hoàn thành việc lập dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo thứ tự ưu tiên ban hành văn bản, căn cứ vào nhu cầu quản lý nhà nước, tính khả thi của văn bản và tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. 7. Đề nghị của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, kiến nghị của người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân về việc xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ được gửi đến Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp chậm nhất là ngày 05 tháng 11 của năm trước. 8. Trình tự, thủ tục đề xuất xây dựng nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo các quy định về đề xuất chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này. Điều 17. Lập dự kiến và trình Chính phủ chương trình xây dựng luật, pháp lệnh Hội đồng lập dự kiến làm việc theo nguyên tắc tập thể, biểu quyết theo đa số. Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định trình Chính phủ dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. 2. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm thẩm tra đối với dự thảo Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Bộ Tư pháp trình; gửi dự thảo Dự kiến Chương trình cùng báo cáo thẩm tra đến Thành viên Chính phủ để lấy ý kiến và tổng hợp ý kiến, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định đưa ra phiên họp Chính phủ. 3. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ chỉnh lý Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến tại phiên họp tháng 8 hàng năm. 4. Sau khi Chính phủ thông qua, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, thừa uỷ quyền Thủ tướng thay mặt Chính phủ trình Dự kiến của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trước ủy ban Thường vụ Quốc hội. 5. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập kế hoạch triển khai chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Điều 18. Lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ 1. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan có liên quan lập Dự kiến chương trình ba tháng, sáu tháng và cả năm về xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. 2. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ được xây dựng trên những căn cứ sau: 3. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp có sự tham gia của đại diện các cơ quan, tổ chức liên quan để xem xét đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ cử đại diện để thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị, kiến nghị của mình. 4. Trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp quy định tại khoản 3 Điều này, Văn phòng Chính phủ lập Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ và gửi đến các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ để lấy ý kiến tham gia. Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải gửi ý kiến tham gia bằng văn bản đến Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp. 5. Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp chỉnh lý dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ trình Chính phủ tại phiên họp thường kỳ cuối năm. Điều 19. Chuẩn bị ý kiến của Chính phủ về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của các cơ quan, tổ chức; đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội 1. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm tập hợp đầy đủ | |||
